Trưng bày hiện vật bảo tàng

Chủ nhật - 05/04/2015 10:24


“Trưng bày hiện vật bảo tàng” là môn học thuộc phần kiến thức chuyên ngành, bắt buộc, được giảng dạy vào học kỳ I - năm học thứ IV, trước đợt thực tập tốt nghiệp cuối khóa. Môn học sẽ giúp sinh viên tiếp cận với các khái niệm, thuật ngữ cơ bản của khâu công tác trưng bày trong bảo tàng, nguyên tắc, trình tự cơ bản để tiến hành một dự án trưng bày hiện vật bảo tàng.
Trong hệ thống các thiết chế văn hóa, giáo dục bao gồm: Trường học, nhà văn hóa, bảo tàng, thư viện, nhà hát,…Mỗi cơ quan có một ngôn ngữ riêng để thực hiện chức năng của mình, còn ngôn ngữ của bảo tàng là trưng bày. Trưng bày được coi là một dấu hiệu quan trọng nhất để phân biệt bảo tàng với các thiết chế giáo dục, văn hóa khác. Trưng bày là tiếng nói, bộ mặt của bảo tàng, khâu quan trọng nhất của giao tiếp bảo tàng. Trưng bày của bảo tàng là cầu nối giữa bảo tàng với xã hội, công chúng, hình thức để công chúng thụ cảm, thưởng thức các giá trị văn hóa của bảo tàng. Không có trưng bày, bảo tàng chỉ là kho bảo quản, lưu trữ các hiện vật đã được hệ thống hóa thành các bộ sưu tập một cách khoa học. Những hiện vật bảo tàng quý hiếm, bằng chứng vật chất cho những sự kiện, hiện tượng của tự nhiên, xã hội được sưu tầm, nghiên cứu, bảo quản chỉ được tiếp xúc với công chúng thông qua trưng bày. Vì vậy, có thể nói, nếu không có hiện vật thì không có bảo tàng và nếu không có trưng bày thì bảo tàng đó cũng chưa chính thức hoạt động với đúng mục đích, chức năng của mình.
Do tính chất đặc thù, chương trình môn học trưng bày hiện vật bảo tàng được thiết kế dựa trên cơ sở kết hợp giữa lý thuyết và thực hành để mang lại hiệu quả cao nhất cho người học và phục vụ tốt cho quá trình công tác thực tiễn sau này.
Môn học trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản về khâu công tác trưng bày hiện vật bảo tàng như sau:
+ Sinh viên biết được các thuật ngữ, định nghĩa về trưng bày, được giới thiệu về các thể loại trưng bày hiện đang được áp dụng ở Việt Nam và các bảo tàng trên thế giới. Biết được các nguyên tắc và trình tự cơ bản của một trưng bày hiện vật bảo tàng. Bên cạnh đó, sinh viên còn nắm được ba nhân tố quyết định của trưng bày, đó là: Tài liệu hiện vật trưng bày, thiết kế trưng bày, công chúng tham quan trưng bày.
+ Sinh viên sẽ nắm được hệ thống những bước để thiết kế nội dung trưng bày hiện vật bảo tàng. Trong đó, cụ thể đối với từng bước, sinh viên học được cách để thực hiện các bước đó qua các giai đoạn. Bước 1 - Thiết kế tổng thể nội dung trưng bày có 3 giai đoạn đó là: Nhiệm vụ thiết kế tổng thể, nghiên cứu xác định chủ đề trưng bày, trình bày văn bản thiết kế nội dung tổng thể. Bước 2 - Nghiên cứu triển khai nội dung chủ đề trưng bày có 1 giai đoạn là: triển khai cấu trúc chủ đề trưng bày. Bước 3 - Triển khai nghiên cứu tài liệu hiện vật trưng bày có 3 giai đoạn: Phân loại tài liệu hiện vật trưng bày, Di sản văn hóa trong trưng bày, Nghiên cứu các tài liệu, hiện vật bổ trợ trong trưng bày bảo tàng. Bước 4 - Nghiên cứu phương án trưng bày có 3 giai đoạn: Tổ chức nội dung, phương pháp họp nhóm tài liệu hiện vật trưng bày, lập danh mục tài liệu hiện vật trưng bày. 
+ Bên cạnh đó, sinh viên còn nắm được phương thức nghiên cứu, thiết kế hình thức nghệ thuật trưng bày, biết được tính chất, nhiệm vụ, yêu cầu cơ bản của thiết kế hình thức nghệ thuật trưng bày, bao gồm: Tính chất của thiết kế hình thức nghệ thuật trưng bày; Nhiệm vụ của thiết kế hình thức nghệ thuật trưng bày; Thủ tục, trình tự thiết kế hình thức nghệ thuật trưng bày. Tiếp đó, người học được biết về điều kiện, phương pháp thiết kế hình thức nghệ thuật trưng bày bảo tàng. Đây là một vấn đề khó đối với sinh viên khi áp dụng vào thực tế. Tuy nhiên, phần học sẽ đưa ra cho sinh viên những kiến thức cơ bản nhất về: nghiên cứu các điều kiện khi thiết kế, phương pháp thiết kế hình thức trưng bày. Không những vậy, sinh viên còn được làm quen với một số thuật ngữ liên quan đến nghệ thuật trưng bày như: Hình thể, đối xứng,, trừu tượng,…    
+ Sau khi học xong môn học, sinh viên hiểu được cách thức tiến hành một dự án trưng bày, từ các khái niệm cơ bản cho đến những yếu tố cần xác định cho một trưng bày, những vấn đề tiến hành xây dựng một dự án trưng bày và cuối cùng là khâu thi công và đánh giá trưng bày. 
Ngoài giờ lên lớp lý thuyết, môn học còn dành một thời lượng cho các buổi học thực tế tại các bảo tàng. Đây là dịp để người học có thể kiểm chứng lý thuyết một cách sinh động, trực quan, giúp ích rất tốt cho việc thực hiện bài thi hết môn và công tác thực tiễn sau này. Thông qua những buổi học như vậy, sinh viên sẽ có điều kiện thuận lợi để rèn luyện các kỹ năng cần thiết của một người cán bộ trưng bày bảo tàng trong tương lai, bao gồm:
+ Năng lực tư duy lí luận khoa học Bảo tàng học.
+ Có khả năng thẩm mỹ nghệ thuật, tư duy logic.
+ Có kỹ năng làm việc cá nhân và làm việc nhóm trong việc nghiên cứu, phân tích, sắp xếp, dàn dựng một trưng bày hiện vật Bảo tàng. Bên cạnh đó là kỹ năng trình bày, thuyết trình một trưng bày hiện vật Bảo tàng có sức thuyết phục.
+ Có kỹ năng vận dụng lí luận, kết hợp các phương pháp trưng bày đã học và khả năng sáng tạo về mặt mỹ thuật để nghiên cứu, phân tích, đưa ra ý tưởng về trưng bày hiện vật Bảo tàng dựa vào các hiện vật đang có trong kho của bảo tàng, từ đó có thể trực tiếp xây dựng một trưng bày hiện vật bảo tàng theo sự phân công và yêu cầu của cơ quan chủ quản.
Tóm lại, Trưng bày hiện vật bảo tàng là môn học có tính thực hành sáng tạo. Vì vậy, để đạt hiệu quả cao trong việc học tập, sinh viên không những cần đọc các tài liệu tham khảo mà còn phải tham quan, khảo sát tại các bảo tàng và hoàn thành các bài tập thực hành theo sự hướng dẫn của giảng viên.
Một số tài liệu tham khảo:
1. Garry Edson & David Dean (2001), Cẩm nang Bảo tàng. Bảo tàng Cách Mạng Việt Nam dịch và xuất bản.
2. Nguyễn Thị Huệ (2005), Lược sử sự nghiệp Bảo tồn Bảo tàng Việt Nam từ 1945 đến nay. Trường Đại học Văn hóa Hà Nội.
3. Nguyễn Thị Huệ (2008), Cơ sở Bảo tàng học. Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
4. Kaulen M.E (2006), Sự nghiệp Bảo tàng của nước Nga. Cục Di sản Văn hóa dịch và xuất bản.
5. Khoa Bảo tồn Bảo tàng - Trường Đại học Văn hóa Hà Nội (1990), Cơ sở Bảo tàng học - Tập 3. Trường Đại học Văn hóa Hà Nội.
6. Vương Hoằng Quân (2008), Cơ sở Bảo tàng học Trung Quốc. Cục Di sản Văn hóa dịch và xuất bản.
7. Nguyễn Thịnh (2002), Sổ tay công tác trưng bày bảo tàng. Nxb Văn hóa thông tin.
8. Nguyễn Thịnh (2011), Thiết kế trưng bày di sản văn hóa. Nxb Xây dựng - Hà Nội.
9. Timothy Ambrose & Crispin Paine (2000), Cơ sở bảo tàng. Bảo tàng Cách mạng dịch và xuất bản.
10. Lâm Bình Tường & Đặng Văn Bài (1980), Sổ tay công tác Bảo tàng, Nxb Văn hóa thông tin.
Giảng viên: TS. Chu Đức Tính
Ths. Phạm Chí Thiện

Tác giả bài viết: Phạm Chí Thiện

Close