Khái quát về các nền văn hóa cổ ở Việt Nam

Thứ bảy - 29/07/2017 05:30


Thời đại đá cũ: Núi Đọ, Sơn Vi, Ngườm

 

 
I. Sơ kỳ thời đại đá cũ


1. Việt Nam chứng kiến quá trình tiến hóa liên tục của con người, từ Homo erectus, sang Homo sapiens, rồi Homo sapiens sapiens.
- Người khôn ngoan có 2 giai đoạn: Khôn ngoan sớm (Homo sapiens) - thoát khỏi yếu tố vượn thành người hiện đại, di cốt hóa thạch, niên đại cổ hơn 40 nghìn năm BP. Họ là chủ nhân của các văn hóa trung kỳ đá cũ. Giai đoạn Khôn ngoan muộn (Homo sapiens sapiens) con người tiếp tục hoàn thiện mình, một số di cốt hóa thạch, họ là chủ nhân của các nền văn hóa hậu kỳ đá cũ, cách đây chừng 30 nghìn năm.
- Ở Việt Nam, người Khôn ngoan sớm phát hiện ở Thẩm Ồm (Nghệ An) và Hang Hùm (Yên Bái), niên đại 60 - 50 nghìn năm BP. Cổ hơn các nơi khác trong khu vực. Riêng Thẩm Ồm còn tìm thấy công cụ mảnh tước quartzite.
Người Khôn ngoan muộn phát hiện ở Kéo Lèng (Lạng Sơn), Thung Lang (Ninh Bình), niên đại 30 nghìn năm BP. Hai địa điểm này chưa tìm thấy công cụ, nhưng một số di chỉ có niên đại hậu kỳ đá cũ đã tìm thấy công cụ cuội ghè đẽo hoặc công cụ mảnh tước như trong Mái đá Ngườm (Thái Nguyên), Mái đá Điều (lớp dưới). 


2. Các văn hóa Sơ kỳ đá cũ Việt Nam:
- Trong thành phần động vật hóa thạch Pongo - Stegodon – Ailuroponda niên đại cuối Trung kỳ Pleistocene ở Thẩm Khuyên và Thẩm Hai có động vật nào do con người săn bắt được và là kết quả hoạt động của Người vượn. ở đây chưa thấy công cụ lao động, chưa thấy yếu tố văn hóa.

 
Hang Thẩm Khuyên

- Ngược lại, trong di tích Núi Đọ, tìm thấy công cụ lao động kiểu sơ kỳ đá cũ lại không thấy di cốt người. Hiện các nhà khoa học đang thảo luận niên đại sơ kỳ đá cũ Núi Đọ. Trong tình hình hiện nay, vẫn sử dụng tư liệu Núi Đọ làm đại diện cho văn hóa sơ kỳ Đá cũ. 
Sơ kỳ: Hai nhóm di tích chính ở Bắc và Nam Việt Nam
Nhóm di tích Núi Đọ , Thiệu Yên , Thanh Hoá: Di tích ngoài trời, hiện vật thu lượm trên bề mặt. Công cụ đá basalt, loại hình chính: Rìu tay, công cụ chặt thô, mảnh tước Clacton và Levallois… Niên đại khoảng 40 vạn năm cách ngày nay.
Nhóm di tích miền Đông Nam Bộ: Phát hiện lẻ tẻ trên bề mặt đồi đất đỏ ở Xuân Lộc (Đồng Nai ) và An Lộc (Bình Dương) , công cụ đá basalt với các loại hình: Rìu tay, công cụ ghè một mặt, mũi nhọn, hòn ném (bolas)… Về mặt kỹ thuật tiến bộ hơn so với Núi Đọ.
Sơ kỳ đá cũ Việt Nam có nhiều nét tương đồng với sơ kỳ đá cũ Đông Nam Á, với các di tích như Tampan (Malaysia), Pajitan (Indonexia)…

 

Công cụ đá cũ sơ kỳ Núi Đọ

II. Hậu kỳ thời đại đá cũ: Tồn tại song song 2 văn hóa thuộc 2 kỹ nghệ khác nhau: văn hóa Sơn Vi - kỹ nghệ cuội ghè (30.000 – 11.000 năm BP), văn hóa Ngườm - kỹ nghệ mảnh tước (40.000 – 20.000 năm BP). Hai văn hóa này có khuynh hướng phát triển và tầm ảnh hưởng khác nhau

1. Kỹ nghệ Ngườm gồm hang Miệng Hổ và mái đá Ngườm (lớp dưới), cùng ở thung lũng Thần Sa (Thái Nguyên) mà đặc trưng nổi bật là chế tác và sử dụng công cụ mảnh tước nhỏ có tu chỉnh làm công cụ lao động.Công cụ mảnh Ngườm

 

2. Văn hoá Sơn Vi trên 140 địa điểm. Các di tích văn hoá Sơn Vi phân bố rộng và không đều ở các tỉnh miền núi và trung du Bắc Bộ, xa nhất về phía Nam là Quảng Trị. Các địa điểm Sơn Vi tập trung cao nhất ở vùng trung du Phú Thọ. Các di tích văn hoá Sơn Vi phân bố trên 2 loại địa hình: đồi gò - thềm sông và hang động - mái đá. Loại hang động - mái đá có số lượng ít. Công cụ đá văn hoá Sơn Vi chủ yếu làm từ cuội sông, suối, kỹ thuật chế tác công cụ đá chủ đạo là ghè đẽo (một mặt), ít tu chỉnh, không có kỹ thuật mài. Công cụ cuội ghè (công cụ dạng hạch) có số lượng nhiều và phong phú: công cụ rìa lưỡi ngang, dọc, mũi nhọn, công cụ hình nửa viên cuội , hình ¼ viên cuội (múi bưởi). Săn bắt và thu lượm là chính. Cư dân văn hoá Sơn Vi là tiền thân của văn hoá Hoà Bình, có vị trí quan trọng trong tiền sử Việt Nam và Đông Nam Á.Công cụ đá Sơn Vi


3. Xuất hiện các di tích hoặc nhóm di tích Hậu kỳ Đá cũ thuộc kỹ nghệ cuội ghè, cổ hơn, tương đương hoặc muộn hơn Sơn Vi, loại hình công cụ khác Sơn Vi hoặc gần với Sơn Vi ở nhiều địa bàn trên toàn quốc:
Nhóm di tích Đồi Thông (Hà Giang)
Nhóm di tích cuội ghè Nậm Tun - Bản Phố ở Tây Bắc.
Nhóm di tích cuội ghè Lung Leng (Lớp Laterite) ở Tây Nguyên
Nhóm di tích cuội ghè Lâm Đồng
Nhóm di tích cuội ghè miền Đông Nam Bộ .

Hậu kỳ đá cũ Việt Nam xuất hiện các văn hóa khảo cổ (gồm một số di tích, phân bố liền khoảnh, có đặc trưng ổn định về di tích và di vật, tồn tại trong một thời gian nhất định và của một tộc người nhất định), các nhóm di tích, trong đó kỹ nghệ công cụ cuội là đặc trưng, điển hình nhất.
Thời đại đá mới Việt Nam
Thời đại đá mới Việt Nam - Sơ kỳ, Trung kỳ và Hậu kỳ

 



 
I. Sơ kỳ Đá mới Việt Nam xuất hiện sớm, tồn tại lâu dài kỹ nghệ công cụ cuội, xác lập truyền thống cư trú trong hang động, khai thác thung lũng đá vôi,có nguồn gốc từ văn hóa Sơn Vi và là tiền đề cho một Đông Nam Á thống nhất trong đa dạng.

1. Văn hoá Hoà Bình : Không gian phân bố của văn hoá Hoà Bình khá rộng lớn, bao gồm các tỉnh Hoà Bình, Thanh Hoá, Nghệ An, Quảng Bình, Quảng Trị, Lai Châu, Sơn La, Hà Giang, Ninh Bình. Mật độ phân bố di tích không đều, nhiều nhất là ở Hoà Bình (72 di tích) và Thanh Hoá (32 di tích). Cư trú trong các hang động và mái đá ở vùng núi đá vôi và kiếm sống ở vùng thung lũng liền kề. Khai thác đá cuội sông, suối tại chỗ để chế tạo công cụ. Kỹ thuật chế tác đá phổ biến là ghè đẽo, bổ, đập, bẻ và chặt ngang, trong đó ghè đẽo một mặt là chủ đạo. Công cụ hình hạnh nhân, hình tam giác, hình đĩa, hình oval, rìu ngắn, rìu dài, chày và bàn nghiền, bàn đập và hòn kê. Công cụ xương và vỏ trai rất ít. Giai đoạn muộn xuất hiện rìu mài lưỡi. Chôn cất người chết ngay ở nơi cư trú, chôn ở sát vách hang, chôn gần bếp lửa. Đồ tùy táng là công cụ đá, đồ trang sức bằng vỏ trai, ốc hoặc xương răng thú. Tục rắc thổ hoàng ở mộ Hoà Bình khá phổ biến. Dấu tích nghệ thuật trong văn hoá Hoà Bình rất hiếm thấy. Ngoài bức hoạ trên vách hang Đông Nội , còn có một số viên đá hoặc mẩu xương khắc vạch những cây lá và động vật. Kiếm sống: săn bắt/bắn thú vừa và nhỏ, bắt cá, ốc… hái lượm theo phổ rộng. Chưa có chứng cứ về cây trồng hay vật nu ôi. Chưa có đồ gốm. Niên đại 18.000-7.500 năm BP. Văn hoá Hoà Bình có nguồn gốc từ văn hoá Sơn Vi.
Hiện vật văn hóa Hòa Bình




2. Văn hoá Bắc Sơn: Không gian phân bố của văn hoá Bắc Sơn ở phía Nam sơn khối đá vôi Bắc Sơn trong các huyện Bắc Sơn, Bình Gia, Hữu Lũng, Chi Lăng, Văn Quan (Lạng Sơn) và Võ Nhai (Thái Nguyên). Người Bắc Sơn giống như cư dân Hoà Bình, khai thác cuội suối tại chỗ để chế tạo công cụ. Công cụ đá Bắc Sơn được phát triển hoàn thiện hơn Hoà Bình cả về loại hình và kỹ thuật chế tạo. Công cụ hình đĩa, hạnh nhân, tam giác, chữ nhật và oval. Tỉ lệ công cụ ghè đẽo 2 mặt cao hơn công cụ ghè đẽo 1 mặt, mảnh tước được tu chỉnh, rìu Bắc Sơn hay rìu mài lưỡi là công cụ tiêu biểu, cuốc đá và "dấu Bắc Sơn"- được coi là di vật độc đáo, làm từ đá schist có dạng một thỏi cuội nhỏ, dài và hơi dẹt. Trên viên cuội, ở 1, 2 hay nhiều mặt có vết mài lõm đôi, chạy dọc viên cuội. Công cụ xương rất ít về số lượng và nghèo nàn về hình loại một số tác phẩm nghệ thuật còn lưu lại trên đá và vỏ ốc biển. Đó là những phiến thạch hay viên cuội có dấu lõm đôi và nhiều vết khía ở Bình Gia. Đó là vỏ ốc biển Cypraera Văn hoá Bắc Sơn được xếp vào sơ kỳ đá mới, có khung niên đại 11.000-7.000 năm BP. Chưa có chứng cứ chắc chắn về cây trồng hay vật nuôi hay đồ gốm. Văn hoá Bắc Sơn có thể được hình thành trên cơ sở kế thừa, hội nhập các truyền thống công cụ hạch cuội Sơn Vi - Hoà Bình và công cụ mảnh kỹ nghệ Ngườm.

 
II. Trung kỳ Đá mới Việt Nam - 3 văn hóa Cái Bèo, Đa Bút, Quỳnh Văn. Đây là giai đoạn con người chuyển từ hang động ra cư trú ngoài trời, khai phá đồng bằng châu thổ chưa hình thành xong, tiến hành thác hải sản sông, biển; định cư làm gốm, kết thúc kỹ nghệ cuội ghè, hoàn thiện kỹ thuật mài, nảy sinh các trung tâm làm gốm sớm, ra đời nông nghiệp và chăn nuôi, có sự phân biệt 3 vùng kinh tế - xã hội đầu tiên trong tiền sử Việt Nam - khúc dạo đầu cuộc Cách mạng Đá mới Việt Nam.

Kế thừa truyền thống Hoà Bình-Bắc Sơn trong chế tác và sử dụng công cụ đá, xương, sừng. Chiếm lĩnh các vùng đồng bằng duyên hải và đảo ven bờ. Tùy thuộc vào điều kiện môi trường sinh thái mỗi nhóm cư dân đã có những cách thích ứng khác nhau bằng những hoạt động kiếm sống đa dạng. Săn bắt, hái lượm, đánh bắt cá đóng vai trò chính song đã xuất hiện các hoạt động sản xuất như làm đồ gốm, trồng trọt (làm vườn), thuần dưỡng một số loài động vật. Đã hình thành các truyền thống chế tác gốm mang tính địa phương. Đời sống tinh thần được thể hiện qua các hình thức mai táng khác nhau như chôn nằm co bó gối, chôn nằm thẳng, đơn táng, song táng... với đồ tùy táng là công cụ đá và đồ gốm.


Cả 3 cùng duy trì công cụ đá ghè đẽo truyền thống, nhưng xuất hiện công cụ mài lan thân, mài toàn thân; nảy sinh 3 trung tâm làm gốm độc lập, khác nhau về quy mô, sản phẩm: Cái Bèo gốm đáy bằng, văn đan nống mốt nống đôi. Đa Bút gốm đáy lồi, văn thừng đập không se. Quỳnh Văn gốm đáy nhọn văn chải 2 mặt.
Ba phương thức hoạt động khai thác khác nhau: Cái Bèo đánh cá biển; Đa Bút khai thác hến ven sông, Quỳnh Văn khai thác sò điệp đới ven bờ. Có dấu tích hoạt động trồng trọt và chăn nuôi.

Hiện vật văn hóa Đa Bút

 
3. Hậu kỳ Đá mới Việt Nam: 5.000 - 3.500 năm BP.
Bước vào hậu kỳ đá mới, con người chiếm cư mọi địa hình, xác lập các văn hóa khác nhau:
Vùng núi phía bắc có các văn hóa: Bản Mòn (Sơn La), Hà Giang (Hà Giang, Tuyên Quang), Mai Pha (Lạng Sơn).
Vùng biển có các văn hóa: Hạ Long (Quảng Ninh, Hải Phòng), Bàu Tró (Nghệ An, Hà tĩnh, Quảng Bình)
Tây Nguyên có 3 văn hóa: Lung Leng (Kon Tum), Biển Hồ (Gia Lai), Buôn Triết (Đắc Lắc, Đắc Nông).
Lẻ tẻ có một số di tích hậu kỳ đá mới khác ở miền núi, cao nguyên trong hang động hoặc thềm sông.
 

1. Văn hóa Hạ Long 27 di tích, phân bố chủ yếu trên các đảo, trên các đồi núi giáp biển và trong một số hang động. Công cụ độc đáo như rìu, bôn có nấc, rìu có vai, bôn có vai, bôn có vai có nấc, rìu bôn lưỡi xoè cân và xoè lệch. "Dấu Hạ Long" (bàn mài có rãnh song song với nhau) cũng tạo nên đặc trưng nổi bật của văn hoá Hạ Long. Đồ gốm, đa số là gốm xốp, đã tạo cho văn hoá Hạ Long có diện mạo riêng so với các văn hoá khác cùng thời. Gốm xốp pha nhiều vỏ nhuyễn thể, hoa văn đắp nổi, khắc vạch kết hợp với trổ thủng. Kinh tế thu lượm, săn bắn (bắt), và đã biết tới nông nghiệp và chăn nuôi. Người Hạ Long là người hướng biển, có mối quan hệ rộng với nhiều cư dân xung quanh. Văn hóa Hạ Long có nguồn gốc từ Cái Bèo kết hợp với tiếp nhận các yếu tố văn hoá-kỹ thuật từ bên ngoài. Niên đại 5.000-4.000 năm BP.
2. Văn hoá Bàu Tró 20 di tích di tích cồn sò, cồn cát và cồn đất, phân bố dọc theo ven biển các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Bình. Các di tích này cách không xa đường bờ biển hiện nay, từ 3 đến 20km. Rìu và bôn có vai và Cuốc là những loại công cụ đá tiêu biểu nhất. Đồ trang sức bằng đá vòng tay, hạt chuỗi hình ống, khuyên tai và nhẫn trang sức bằng đất nung khuyên tai hình đỉa, trang sức hình đuôi cá, trang sức hình tam giác, trang sức hình thoi cắt một đầu, hạt chuỗi hình ống và vòng gốm. Gốm Bàu Tró có 3 loại khác nhau. Đó là gốm đáy nhọn văn chải hai mặt, gốm đáy tròn văn thừng, gốm đáy tròn hoặc có chân đế trang trí văn khắc vạch trên nền thừng kết hợp với tô màu đỏ Niên đại 5.000-4.500 năm BP. Cư dân Bàu Tró định cư lâu dài trên nhiều địa hình ven biển khác nhau, đã đạt đến trình độ chế tác đá cao và làm gốm bằng bàn xoay, kiếm sống bằng thu lượm, săn bắn (bắt), đánh cá, làm nông nghiệp và chăn nuôi. Rất có thể, cuốc là một công cụ quan trọng của nhà nông Bàu Tró.Hiện vật văn hóa Bàu Tró
3. Văn hoá Mai Pha. Các di tích thuộc văn hoá Mai Pha hiện biết đều phân bố ở Lạng Sơn Đây là loại hình di tích hang động. Gốm Mai Pha được trang trí các loại văn thừng, văn khắc vạch và trổ thủng. Hoa văn hoa thị và trổ thủng là hoa văn độc đáo của Mai Pha. Người Mai Pha cũng tô màu cho đồ gốm thêm đẹp. Hoạt động kiếm sống của người Mai Pha chủ yếu dựa vào thu lượm ốc suối, ốc núi, rau quả rừng, săn bắn thú rừng, trồng trọt và chăn nuôi. Người Mai Pha có nhiều mối quan hệ với cư dân văn hoá Hà Giang, Hạ Long, Bàu Tró, Phùng Nguyên…Hiện vật văn hóa Mai Pha
4. Văn hoá Biển Hồ phân bố ở cao nguyên Pleiku. Nhiều địa điểm của văn hoá này là di chỉ mộ táng. 26 di tích đã được phát hiện. Đặc trưng nổi trội của bộ di vật đá Tây Nguyên là ở chỗ chúng được làm từ đá lửa (silex) và đá phtanite Rìu bôn có vai và bôn "răng trâu" là 2 loại công cụ chủ đạo của văn hoá Biển Hồ.
Ngoài ra dấu tích thời hậu kỳ đá mới còn được phát hiện ở nhiều vùng địa hình khác nhau ở Việt Nam suốt từ miền núi phía Bắc đến Đông Nam Bộ và khu vực giáp ranh giữa Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ như An Sơn, Rạch Núi (Long An).




Thời đại đồ đá mới hay "Cách mạng đá mới" đã diễn ra ở Việt Nam khá sớm, bắt đầu vào khoảng 18.000 năm BP và kết thúc vào 4.000 năm BP. Cư dân Hoà Bình-Bắc Sơn là những người đi tiên phong trong cuộc "Cách mạng đá mới" ở Việt Nam. Các con đường đá mới hoá sau Hoà Bình-Bắc Sơn đã dẫn đến sự phát triển tột đỉnh của các kỹ thuật chế tác đá, sự phát triển phong phú và đa dạng cao của các loại công cụ sản xuất, sự xuất hiện nhiều và phát triển cao của các nghề thủ công, nhất là sự ra đời của nông nghiệp và chăn nuôi. Có thể nói, cuộc "Cách mạng đá mới" thật sự đã tạo ra tiền đề cần thiết cho sự xuất hiện của "Cách mạng luyện kim ở Việt Nam".
Văn hóa Tiền Đông Sơn ở lưu vực S.Hồng : Phùng Nguyên - Đồng Đậu - Gò Mun
1. Văn hóa Phùng Nguyên (Sơ kỳ đồng thau)
*Địa bàn: Các địa điểm văn hoá Phùng Nguyên phân bố tập trung ở khu vực hợp lưu của các con sông lớn: Sông Hồng, Sông Đà, Sông Lô và Sông Đáy tức vùng Phú Thọ và Nam Vĩnh Phúc, Đông Bắc Hà Tây, Hà Nội, vùng Nam Bắc Ninh. Phần lớn các di tích nằm ở miền trước núi, dưới chân đồi núi đất, ven sông suối ở vùng trung du. Một vài địa điểm trên các khu đất cao châu thổ, ven biển.
• Loại hình: cư trú; di chỉ-xưởng; di chỉ-mộ táng…
Di tích với các hố đất đen - một loại hình di tích khá phổ biến trong văn hóa Phùng Nguyên (Gò Hội, Lập Thạch, Vĩnh Phúc)
• Di vật: đá, gốm, xương, đồng
Công cụ sản xuất của cư dân Phùng Nguyên chủ yếu làm bằng đá. Hầu như toàn bộ công cụ như bôn đá hình tứ giác, rìu đá tứ giác và đồ trang sức đá vòng tay, hạt chuỗi, khuyên tai… đều được mài nhẵn, kích thước nhỏ nhắn, đa dạng và tinh tế, được chế tác từ các loại đá quý hiếm, độ rắn cao, màu sắc đẹp như trắng, nâu, đỏ, lam, nâu đen, vàng gan gà…. Các kỹ thuật chế tác như ghè đẽo, cưa, khoan, mài, tiện… đều có mặt trong quá trình chế tác đồ đá của người Phùng Nguyên và đạt tới một trình độ điêu luyện cao 

 

Hiện vật đá văn hóa Phùng Nguyên

Hiện vật đồng thau định hình chưa tìm thấy trong các địa điểm văn hoá Phùng Nguyên, song cư dân Phùng Nguyên đã biết đến nghề luyện đồng. Trong một số di chỉ Phùng Nguyên đã tìm thấy những cục đồng nhỏ, gỉ đồng và xỉ đồng.
Kỹ thuật chế tác gốm rất tinh xảo về cả loại hình, chất liệu, hoa văn. Gốm Phùng Nguyên dược xem là đỉnh cao của nghệ thuật gốm Việt Nam thời sơ sử.
Gốm Phùng Nguyên - sự kết hợp hài hòa giữa kỹ thuật và mỹ thuật
•Kinh tế-Xã hội: Cư dân Phùng Nguyên là cư dân nông nghiệp, sống ở những làng định cư rộng và lâu dài, các ngành nghề thủ công đóng vai trò quan trọng. Những chứng cứ vật chất cũng cho thấy thu lượm và săn bắt những loại thú vừa và nhỏ, thuỷ sản… có vai trò không phải là nhỏ trong đời sống hàng ngày. Đời sống tinh thần phát triển với những đồ trang sức đẹp, gốm trang trí cầu kỳ và một số tượng nghệ thuật

Tượng hình người bằng đá ở Văn Điển, Hà NộiDọi xe chỉ bằng đất nung (chứng cứ của nghề xe sợi, dệt vải)
•Nguồn gốc: Hợp nguồn các dòng bản địa và có một số yếu tố từ bên ngoài
•Quan hệ: Hoa Lộc, Hạ Long, Mai Pha, Nam Trung Hoa
* Niên đại: Niên đại mở đầu từ cuối thiên niên kỷ III BC, đầu thiên niên kỷ II BC và kết thúc vào khoảng nửa đầu thiên niên kỷ II BC.

2. Văn hoá Đồng Đậu (Trung kỳ đồng thau)
* Di tích: Các di tích Đồng Đậu phân bố về cơ bản trùng hợp với địa bàn cư trú của văn hoá Phùng Nguyên với sự mở rộng về phía trung và hạ châu thổ . 37 di tích. Các di tích tập trung ở những đồi gò không cao, bên các đầm hồ, ven lưu vực các sông suối như sông Hồng, sông Lô, sông Đà và sông Đuống thuộc các tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hà Nội, Hà Tây, Bắc Ninh, Bắc Giang
Di chỉ khảo cổ học Đồng ĐậuMộ táng văn hóa Đồng Đậu ở di tích Đình Tràng, Hà Nội
* Di vật: đồ đá vẫn chiếm một tỉ lệ đáng kể. Tuy vậy có thể thấy sự suy thoái về chất liệu cũng như kỹ thuật chế tác. kỹ thuật luyện kim đúc và chế tác đồ đồng có sự phát triển đột biến. Loại hình phong phú như rìu, giáo, lao, mũi tên các loại hình lá ba cạnh có chuôi hoặc không có chuôi, dũa, đục, dao khắc, lưỡi câu, búa đồng (hay chuôi dao). Đồ đồng được chế tác tại chỗ. Hầu hết ở các khu di tích văn hoá Đồng Đậu đều tìm thấy dấu vết của nghề đúc, luyện đồng như khuôn đúc, nồi nấu đồng… những mảnh khuôn này thuộc loại khuôn hai mảnh bằng đá hoặc bằng đất nung mà vật đúc hết sức đa dạng. Tại Thành Dền bên cạnh khuôn đúc còn tìm thấy 20 mảnh nồi nấu đồng, dấu tích của 4 lò nung nấu đồng và hàng trăm xỉ, gỉ đồng, Thành Dền cho tới nay được coi là trung tâm đúc đồng lớn của văn hoá Đồng Đậu. Qui mô nghề luyện đồng ở Đồng Đậu có lẽ không lớn - theo kiểu hộ gia đình trong một làng. Đợt khai quật Đồng Đậu lần thứ IV đã tìm thấy vết tích lò nấu đồng nhỏ với xỉ, mảnh nồi, khuôn đúc bằng đất nung. Có lẽ chưa có thợ "chuyên", và nghề đúc đồng cũng chưa được chuyên hoá.
Cư dân Đồng Đậu làm nông nghiệp. Họ làm ruộng nước và ruộng khô quanh nơi cư trú. Điều kiện khí hậu và môi trường rất thuận lợi cho việc phát triển nền nông nghiệp đa canh, Nguồn gốc từ văn hóa Phùng Nguyên. Niên đại 3500- 3000 cách ngày nay.Hạt gạo cháy trong di tích Đồng Đậu
 
Hiện vật văn hóa Đồng Đậu
 
3. Văn hoá Gò Mun (hậu kỳ đồng thau)
 
Di tích: 34, các địa điểm văn hoá Gò Mun phân bố chủ yếu ở vùng chuyển tiếp từ trung du xuống châu thổ sông Hồng, ven bờ trái, phải của sông Hồng và ven các nhánh của con sông này như sông Đáy, sông Đuống.
Di vật: Đồ đá của văn hoá Gò Mun được sản xuất trong một khu vực tập trung và trao đổi cho cư dân trong cộng đồng. Công cụ đá có kích thước trung bình và lớn. Chất liệu là đá basalt màu xám. người Gò Mun đã hoàn chỉnh và nâng cao kỹ thuật đúc luyện đồng. Tỉ lệ đồng thiếc khá ổn định, ít tạp chất tự nhiên. trên 20 loại công cụ vũ khí và dụng cụ khác nhau, công cụ và vũ khí bằng đồng thau đã chiếm một tỉ lệ trên 50% trong tổng số công cụ và vũ khí. Bên cạnh vũ khí và công cụ còn gặp đồ trang sức bằng đồng như vòng tay, khuyên tai, nhẫn, nhạc cụ, tượng người và tượng động vật. Người Gò Mun làm ruộng nước, trồng màu, chăn nuôi bên cạnh thu lượm và săn bắt (bắn) thú rừng. Sự phát triển và hoàn thiện của nông nghiệp trồng lúa đã được chứng thực qua sự phát hiện của những hố có dấu vết của lúa và những nông cụ bằng đá, bằng đồng đã khá hoàn thiện về loại hình và chuyên biệt về chức năng. Các nghề thủ công đã rất phát triển và có vai trò to lớn trong đời sống cư dân. văn hoá Gò Mun có thể bắt đầu hình thành vào khoảng 3.000 năm và niên đại kết thúc của nó khoảng 2700/2600 năm cách ngày nay. Văn hoá Gò Mun là cơ tầng, cội nguồn bản địa của sự hình thành và phát triển của văn hoá Đông Sơn.
 
 
Hiện vật văn hóa Gò Mun
 Văn hóa Đông Sơn
 
Văn hoá Đông Sơn ra đời là kết quả của sự hội tụ của nhiều văn hoá rực rỡ trước văn hoá Đông Sơn thuộc thời đại đồng thau trong quá trình chiếm lĩnh vùng đồng bằng các con sông lớn ở miền Bắc Việt Nam, đặc biệt đậm đặc ở lưu vực sông Hồng. Phạm vi phân bố của nền văn hoá Đông Sơn trên cơ bản là trong phạm vi ở miền bắc Việt Nam. Có khoảng 400 di tích đã được biết đến của văn hoá Đông Sơn hiện tồn tại ở Việt Nam, từ biên giới của Việt Nam với Trung Quốc về phía Bắc; với Lào ở phía Tây; và tỉnh Quảng Bình ở phía Nam.
Có thể phân chia văn hoá Đông Sơn thành các loại hình địa phương trong một sự thống nhất chung như:
Loại hình văn hoá Đường Cồ, hay loại hình văn hoá Sông Hồng.
Loại hình văn hoá Đông Sơn hay loại hình văn hoá Sông Mã.
Loại hình văn hoá Làng Vạc hay loại hình văn hoá Sông Cả.
Di tích văn hóa Đông Sơn thuộc nhiều loại hình: Cư trú, mộ táng, xưởng, kho báu, thành lũy…
Người Đông Sơn đã chiếm lĩnh các đồng bằng, dọc tất cả những lưu vực các con sông lớn, các ngã ba sông, các vùng trung du, miền núi và hải đảo; người Đông Sơn đã tập trung thành từng làng rộng lớn, trù mật.
Công nghệ luyện kim đạt đến đỉnh cao, đúc rất nhiều sản phẩm bằng đồng, từ đơn giản đến những sản phẩm như trống, thạp đồng, thố đồng. Các thao tác như làm khuôn, tạo vật pha chế hợp kim rất thành thục và phát minh nghề luyện sắt.Các di vật bằng đồng hết sức phong phú về số lượng và đa dạng về loại hình. người thợ kim khí Đông Sơn đã hoàn toàn làm chủ được kỹ thuật của họ trong tất cả các lĩnh vực của quá trình đúc đồng. Thành phần chính của đồng thau Đông Sơn là đồng, chì, thiếc. Hợp kim của đồng với tỉ lệ chì cao đã trở thành nét độc đáo của cổ đồng Đông Sơn.Dấu vết vải Động Xá (ảnh Nguyễn Việt)
Người Đông Sơn có nền nông nghiệp trồng lúa nước khá phát triển , trồng nhiều thứ lúa và nghề làm vườn, chăn nuôi gia súc. Một nền nông nghiệp dùng cày, lưỡi cày bằng kim loại, cày lật đất và dùng sức kéo bằng động vật. Các nghề thủ công như mộc, dệt, đan lát, gốm, đá, thủy tinh... cũng rất phát triển.Khuyên tai hình vành khăn bằng thủy tinh Núi Sen, Thanh Hóa
Trên những thành tựu đạt được ở lĩnh vực luyện kim và nông nghiệp lúa nước, người Đông Sơn đã tạo được một hạ tầng cơ sở khá vững chắc, cho việc xuất hiện một nhà nước đầu tiên của Việt Nam cũng như khu vực Đông Nam Á. Nhà nước Âu Lạc của An Dương Vương có tổ chức quân đội, trang bị nhiều loại vũ khí, đặc biệt là loại cung nỏ phức tạp và lợi hại. Kinh đô Cổ Loa đã có thành, hào bao bọc. Nhà nước An Dương Vương đã có quan hệ rộng rãi ngoài lãnh thổ.


Sơ đồ thành Cổ Loa với ba vòng thành
2. 

Văn hóa Tiền Sa Huỳnh - Sa Huỳnh

 
1. Văn hóa Tiền Sa Huỳnh
Những địa điểm thời đại đồng thau (khoảng 20 di tích trong khung niên đại từ 3
.500-2.500 năm BP), được gọi là Tiền Sa Huỳnh, Sơ Sa Huỳnh hay Sa Huỳnh sớm và hiện nay được phân lập thành những văn hoá (giai đoạn):
Văn hóa Xóm Cồn (3.500±3000 năm cách ngày nay)
Long Thạnh - Sơ kỳ Đồng thau và
Bình Châu - Hậu kỳ Đồng thau
a. Văn hóa Xóm Cồn: Các di tích thường nằm sát ven biển, cận kề vịnh vụng có khả năng tránh gió, bão, gần nguồn nước tự nhiên. Những vết tích động thực vật trong tầng văn hoá cho thấy, săn bắt thu lượm song hành bên cạnh nông nghiệp và đặc biệt là vai trò to lớn của khai thác sản vật biển trong đời sống của cư dân. Đồ đá chủ yếu là rìu tứ giác, thon dài, đốc hẹp, gần với rìu, bôn tứ giác của văn hóa Đồng Nai. Công cụ và trang sức làm từ vỏ nhuyễn thể rất phổ biến thể hiện đậm nét yếu tố biển và cách thích ứng với điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái.
b. Long Thạnh: Mộ táng kết hợp với cư trú. Mộ chum có hai loại hình chính là hình trứng và hình cầu, nắp chum hình lồng bàn. Đồ tùy táng đá và gốm, không thấy kim loại. Gốm tùy táng Long Thạnh được trang trí cầu kỳ và rất đẹp với những thủ pháp như khắc vạch, miết láng, tô màu…. Gốm tô màu ở Long Thạnh và ở những di tích cùng nhóm chủ yếu tô màu đen ánh chì, trên phần nền để trơn của những đồ án hoa văn khắc vạch kết hợp. Loại hình gốm độc đáo là bình hình lọ hoa với nhiều kiểu dạng và được trang trí toàn thân. 


Địa điểm Bãi Ông (Cù Lao Chàm) giai đoạn Long Thạnh




Địa điểm Xóm Ốc (Đảo Lý Sơn) Tiền Sa Huỳnh - Sa HuỳnhHiện vật giai đoạn Long Thạnh
3. Bình Châu: 2 loại hình di tích cư trú và di tích mộ táng. Công cụ sản xuất bằng đá, mảnh gốm và bằng chứng của kỹ nghệ luyện kim đồng thau như mảnh khuôn đúc, mảnh nồi nấu, xỉ đồng và cục đất nung cháy. Đồ đá có cuốc đá, dao đá. Mộ huyệt đất với phương thức chôn cất là những nhóm đồ gốm đặt gần nhau, úp miệng xuống đất. Đồ tuỳ táng có công cụ sản xuất, vũ khí bằng đồng thau, đồ gốm, đồ trang sức - khuyên tai hình đỉa đất nung. Hiện vật đồng thau có mũi tên, lao có ngạnh, đục, lưỡi câu. Nét độc đáo của gốm tô màu Bình Châu là sử dụng nhiều màu đen ánh chì (chủ đạo) màu đỏ, màu vàng, màu trắng…. Văn tô màu ở Bình Châu được kết hợp hài hoà với những yếu tố khác như văn thừng, khắc vạch, in chấm dải. Người Bình Châu ưa tô những băng ngang một màu, đặc biệt là đen ánh chì.Gốm Bình Châu
Hầu hết các di tích Tiền Sa Huỳnh phân bố hoặc trên các đồi gò cát biển hoặc trên các đồi đất núi. Giai đoạn này cư dân cũng đã chiếm lĩnh những không gian cửa sông ven biển, đảo ven bờ (Cù Lao Chàm, Quảng Nam và Cù Lao Ré, Quảng Ngãi) và một số đảo xa bờ ở khu vực biển miền Nam Việt Nam như đảo Thổ Chu (Phú Quốc, Kiên Giang), đảo Hòn Cau (Côn Đảo, Bà Rịa - Vũng Tàu). Nhiều những địa điểm cư trú xen lẫn mộ táng hay cư trú rộng hàng ngàn mét vuông, có tầng văn hoá dày, di vật phong phú, nhất là công cụ sản xuất đá và đồ gốm như địa điểm Long Thạnh, Bàu Trám, Xóm Cồn… chứng tỏ quá trình định cư lâu dài, ổn định của cư dân nông nghiệp kết hợp khai thác rừng và biển
2. Văn hóa Sa Huỳnh
Nền văn hoá có niên đại sơ kỳ sắt (2600 năm cách ngày nay đến thế kỷ 1, 2 sau Công nguyên). Không gian phân bố chính là miền Trung Việt Nam từ Thừa Thiên Huế đến Ninh Thuận, Bình Thuận.
Các di tích văn hoá Sa Huỳnh (trên 80 di tích) phân bố ở hầu khắp các dạng địa hình của các tỉnh miền Trung Việt Nam, từ vùng đồi gò, cồn cát ven sông, ven biển đến các đảo ven bờ, mỗi loại hình sinh thái đều có những nét riêng, tạo ra một số dạng địa phương của văn hoá này. Tuy vậy tính thống nhất trong văn hoá Sa Huỳnh được thể hiện rất rõ trong cấu tạo di tích, táng thức và bộ di vật.
Văn hoá Sa Huỳnh có táng thức chủ đạo dùng chum, vò gốm có kích thước lớn làm quan tài với đồ tuỳ táng bằng sắt, gốm, thuỷ tinh, mã não… Cùng với việc đạt đến trình độ cao của kỹ thuật chế tạo sắt (cả việc đúc gang), cư dân văn hoá Sa Huỳnh còn đạt đến bước phát triển cao với các nghề xe sợi, dệt vải, chế tạo gốm, chế tác đồ trang sức. Nghề làm gốm rất phát triển, thể hiện trong mọi khía cạnh từ kỹ thuật, độ nung đến tạo hình, trang trí. Đặc điểm nổi bật của gốm Sa Huỳnh là những đồ gốm lớn đến rất lớn, đòi hỏi kỹ năng khéo léo và kỹ thuật cao trong chế tác và khống chế độ nung.

Chum lồng đôi "dạng trong quan ngoài quách" văn hóa Sa Huỳnh

Trong văn hoá Sa Huỳnh, đồ sắt chiếm một vị trí rất quan trọng. Theo thống kê loại hình đồ sắt ở một số địa điểm văn hoá Sa Huỳnh có thể thấy rằng công cụ sản xuất chiếm số lượng rất lớn so với vũ khí (306 công cụ sản xuất/ 56 vũ khí). Mỹ cảm của người Sa Huỳnh được ảnh xạ qua đồ gốm trang trí khắc vạch, tô màu và đồ trang sức thủy tinh, mã não tinh xảo, cầu kỳ.
Nền kinh tế đa ngành kết hợp giữa trồng lúa nước ở các đồng bằng nhỏ duyên hải, trồng lúa kiểu nương rẫy ở vùng đồi gò. Cư dân văn hoá này sớm biết khai thác những nguồn lợi của biển, của rừng, biết phát triển các nghề thủ công, từng bước họ đã mở rộng quan hệ trao đổi buôn bán với các cư dân trong khu vực Đông Nam Á lục địa, hải đảo và rộng hơn với Ấn Độ và Trung Hoa. Trong nền kinh tế Sa Huỳnh buôn bán có vai trò quan trọng, đặc biệt là ở những vùng ven biển, cửa sông. Nhiều cảng thị sơ khai đã được hình thành ở những cửa sông lớn ven biển. Những cộng đồng Sa Huỳnh liên kết với nhau và với bên ngoài qua trao đổi văn hoá, chính trị và kinh tế bằng đường biển và đường sông.
Văn hoá Sa Huỳnh là nền tảng cơ sở cho sự hình thành và phát triển của những nhà nước sơ khai giai đoạn muộn hơn. Kiểu tổ chức không gian xã hội và sự phát triển đa dạng phù hợp với điều kiện tự nhiên sinh thái cũng như cách thức hội nhập phù hợp với bối cảnh chính trị-kinh tế khu vực của các cộng đồng cư dân văn hoá Sa Huỳnh đã được kế thừa và phát huy ở những giai đoạn sau.

Văn hóa Đồng Nai

 
Trong thời đại kim khí (từ khoảng 4.000 năm đến 2.000 năm cách ngày nay) trên lãnh thổ Việt Nam cùng hình thành và phát triển ba trung tâm văn hóa. Đó là:
Trung tâm Tiền Đông Sơn - Đông Sơn ở miền Bắc Việt Nam
Trung tâm Tiền Sa Huỳnh - Sa Huỳnh ở miền Trung Việt Nam
Trung tâm văn hóa Đồng Nai với các giai đoạn từ đồng thau đến sơ kỳ sắt.
 
 
Văn hóa Đồng Nai (thời đại đồng thau)
Hai khu vực: Lưu vực sông Đồng Nai và lưu vực sông Vàm Cỏ
Tại hai lưu vực sông này thời đại kim khí đều có nguồn gốc từ những giai đoạn hậu kỳ đá mới trước đó. Việc phân chia giai đoạn còn rất nhiều ý kiến khác nhau. Tuy nhiên có thể đưa ra một số nét khái quát sau.

Mật độ phân bố di tích thời đại kim khí khá đậm đặc. Nhiều di tích có quy mô lớn hàng vạn m2. Loại hình di tich ở đây cũng khá đa dạng: di tích cư trú, di tích cư trú- mộ táng, di tích cư trú-xưởng hay di tích công xưởng…
Cấu tạo địa chất của khu vực không đồng nhất và thời gian cư trú không đồng đều đã tạo nên sự đa dạng phức tạp của cấu tạo tầng văn hoá. Độ dày mỏng của tầng văn hoá không đều nhau. Có di tích chỉ có một tầng văn hoá (Cầu Sắt, Bến Đò), song đa phần là những di tích có tầng văn hoá dày vắt ngang qua nhiều giai đoạn song lại chưa được phân chia trong một số trường hợp một cách cụ thể, xác định. Việc phân kỳ hiện nay còn khá nhiều ý kiến chưa đồng nhất, đặc biệt về niên đại mở đầu của Cầu Sắt - khởi điểm của văn hoá Đồng Nai. Giai đoạn cuối của thời đại đồng thau chứng kiến sự phân hoá mạnh mẽ giữa các vùng và sự hình thành các loại hình văn hoá địa phương. - Đồ đá: là loại di vật phổ biến và có số lượng lớn. Đây cũng là đặc trưng nổi trội của văn hoá Đồng Nai - nơi mà công cụ, dụng cụ bằng đá lấn át mạnh mẽ và lâu dài kim loại. Sự bảo lưu kỹ thuật chế tác đá và loại hình công cụ đá của thời đại đồ đá mới trong các di tích thời đại kim khí được đề cập trong các nghiên cứu bằng các thuật ngữ "hậu đá mới", "đồng đá"…
Chất liệu dùng chế tác công cụ đá trong các địa điểm khảo cổ vùng Đồng Nai chủ yếu là đá basalt, một số từ đá andesite. Kỹ thuật chế tác đá mang nhiều tính chất thực dụng, tiết kiệm tối đa công sức và nguyên liệu. Kỹ thuật chế tác chủ đạo là ghè tạo dáng và mài hoàn chỉnh, kỹ thuật khoan ít, kỹ thuật cưa hiếm gặp và chủ yếu được sử dụng trong quá trình tạo rìu vai nhọn. Bộ công cụ đá mang tính chuyên môn hoá cao. Chiếm số lượng nhiều nhất là nhóm công cụ sản xuất, vũ khí (rìu, bôn, cuốc, mai, dao hái, đục, mũi nhọn, mũi tên…). Loại hình được coi là đặc trưng và mang phong cách văn hoá Đồng Nai là rìu bôn có vai và không có vai. Tỉ lệ giữa rìu bôn có vai và không vai là một trong những tiêu chí phân giai đoạn và loại hình văn hoá.
Loại chế phẩm bằng đá đặc sắc trong văn hoá Đồng Nai là đàn đá - nhạc cụ thuộc bộ gõ. Đàn đá có mặt ở nhiều di tích, niên đại khoảng 3.000 năm BP.

 
Đàn đá Bình Đa
Ở di tích Bình Đa lần đầu tiên những thanh đàn đá đã được tìm thấy trong tầng văn hoá cùng với tổ hợp di vật gốm đá khác. Phát hiện này đã giúp xác định được niên đại đàn đá, khẳng định sự tồn tại của một nhạc cụ cổ truyền ở Đồng Nai nói riêng và nước ta nói chung thời Tiền, Sơ sử.
- Đồ gốm: Có mặt với khối lượng lớn trong các di tích. Nhiều địa điểm số mảnh gốm lên tới hàng vạn, thậm chí hàng chục vạn mảnh.
Chất liệu gốm có nhiều loại: thô, mịn và xốp. Bên cạnh đó còn có gốm màu với sắc mận chín, nâu gụ, xám ánh chì.
Kỹ thuật chủ đạo trong chế tác đồ gốm là bàn xoay, một số loại hình được làm bằng phương pháp dải cuộn và nặn tay.
Kiểu dáng gốm chủ yếu là các loại vò, nồi, bình, bát với nhiều loại kích thước khác nhau. Những loại hình đặc trưng là cà ràng, bàn xoa gốm, bi gốm, dọi xe chỉ.
Đồ gốm được trang trí bằng các loại hoa văn thừng, dập (đập), chải, khắc vạch, chấm dải, tô màu. So với những khu vực khác hoa văn gốm Đồng Nai đơn giản và mộc mạc hơn.
- Đồ gỗ: Văn hoá Đồng Nai còn nổi tiếng bởi sưu tập công cụ gỗ phong phú về loại hình, nhiều về số lượng. Đặc biệt là những tổ hợp hiện vật gỗ tìm thấy ở các di tích vùng sình lầy ven biển như Cái Vạn, Bưng Bạc, Bưng Thơm, Rạch Lá
- Đồ xương: Văn hoá Đồng Nai đặc trưng bởi bộ sưu tập công cụ đồ dùng chế tác từ xương - sừng chưa từng có ở Đông Nam Á với những lưỡi câu lớn gia công từ sừng hươu, dao và kim dùi từ xương trụ của chó nhà, rìu có vai từ mai rùa biển và nhóm trang sức đủ loại ở các địa điểm An Sơn, Rạch Núi… (Long An)(theo những kết quả NC mới nhất, An Sơn, Rạch Núi được xác định là những di tích thuộc Hậu kỳ Đá mới).
- Đời sống vật chất: phát triển nền nông nghiệp dùng cuốc, bên cạnh cây lúa là các loại rau đậu, cây có quả - củ cho bột. Phương pháp canh tác đặc thù của nông nghiệp nương rẫy là phát - đốt. Chăn nuôi, săn bắt, thu lượm, đánh bắt thuỷ hải sản đặc biệt được coi trọng (số lượng xương sừng trong các di tích Bưng Bạc, An Sơn, Rạch Núi… lên tới hàng chục kg) (Theo ý kiến của một số người nghiên cứu nông nghiệp tuy đã phát triển nhưng chưa có vai trò vượt trội so với kinh tế khai thác). Ở đây đã diễn ra quá trình chuyên môn hoá - phân công lao động - phân vùng kinh tế tuỳ thuộc với từng tiểu vùng sinh thái. Đã hình thành những trung tâm sản xuất của nghề thủ công như làm gốm, đúc đồng, chế tác đồ trang sức đá…. Ở những vùng ngập mặn ven biển, kinh tế khai thác lâm, thuỷ, hải sản đóng vai trò quan trọng. Vùng cửa sông, ven biển hoạt động buôn bán, trao đổi.
- Đời sống tinh thần: được biết đến qua những hiện vật, những hình tượng nghệ thuật từ văn hoá trên đồ gốm, đồ đồng đến sưu tập thẻ đeo bằng đá cuội mài dẹt hình gần oval hoặc chữ nhật và bán cầu có lỗ thủng tròn hay tạo núm ở đầu, tượng lợn, rùa bằng sa thạch, đàn đá… 
 
Văn hóa Đồng Nai (Sơ kỳ Sắt)
Các di tích sơ kỳ thời đại đồ sắt ở Nam bộ phân bố chủ yếu ở lưu vực các dòng sông Đồng Nai, Vàm Cỏ với một hệ thống các chi lưu và lạch chằng chịt hoặc tập trung tại các giồng đất cao ven biển. Các di tích sơ kỳ thời đại đồ sắt ở Nam bộ phân bố chủ yếu ở lưu vực các dòng sông Đồng Nai, Vàm Cỏ với một hệ thống các chi lưu và lạch chằng chịt hoặc tập trung tại các giồng đất cao ven biển. Các cộng đồng cư dân sơ kỳ thời đại đồ sắt ở Nam bộ thường tập trung sống thành các làng định cư lớn ven các dòng sông hoặc ven biển, nơi có các doi đất cao thuộc bậc thềm phù sa cổ được thành tạo bởi các dòng sông. Bên cạnh đó cũng có làng định cư tại các vùng sình lầy ngập mặn với hệ thống nhà sàn gỗ.
Loại hình di tích độc đáo – Mộ cự thạch Hàng Gòn. Nniên đại của di tích khoảng cận kề Công nguyên và là loại hình mộ trác thạch có quy mô lớn nhất ở Đông Nam Á cùng giai đoạn. Có nhiều khả năng đây là mộ của vị thủ lĩnh hay dòng họ thủ lĩnh đứng đầu một lãnh địa khá hùng mạnh ở khu vực Đông Nam bộ.Qua đồng Long GiaoTù và bằng đồng tìm thấy trong khu di tích Cự thạch Hàng Gòn
Đồ đồng văn hóa Dốc Chùa với các loại hình như rìu lưỡi Parabol, qua, tượng thú….và một số lượng lớn khuôn đúc cho thấy tại đây đã hình thành và phát triển một trung tâm, một truyền thống đúc đồng mang tính địa phương. Các cộng đồng cư dân nơi đây dựa vào điều kiện sông nước mà giao lưu văn hoá-kinh tế, khai thác nhiều nguồn lợi tự nhiên phong phú và đa chiều giữa các cộng đồng cư dân khác trong bối cảnh thương mại biển ở khu vực Đông Nam Á bắt đầu một thời kỳ phát triển sôi nổi với khu vực Đông Á và Nam Á.
Phát triển các tuyến văn hóa theo khu vực
Khu vực 1: Lưu vực sông Đồng Nai và sông Vàm Cỏ. Đây là các di tích phân bố trên phạm vi các gò đất cao của vùng phù sa cổ lưu vực hai con sông Đồng Nai và Vàm Cỏ, gồm các di tích: Dốc Chùa lớp trên, Suối Chồn, Phú Hòa, Dầu Giây, Hàng Gòn, Lò Gạch, Gò Cao Su, Gò Hàng, Gò Ô Chùa lớp dưới, Long Giao (Xuân Lộc, Đồng Nai)...
- Khu vực 2: Từ hạ lưu sông Đồng Nai đến ven biển Bà Rịa-Vũng Tàu và thành phố Hồ Chí Minh. Đây là các di tích phân bố trên phạm vi các giồng đất cao xen giữa các dòng chảy ở khu vực hạ lưu hệ thống sông Đồng Nai và hệ thống sông Mekong, gồm các di tích: Giồng Cá Vồ, Giồng Phệt, Giồng Lớn, Giồng Nổi (Bến Tre), Bưng Bạc, Bưng Thơm...
- Khu vực 3: Vùng đồng bằng thấp ven biển Đồng Tháp Mười với một di tích Gò Cây Tung.
Niên đại:Căn cứ vào các phân tích C14 và các đặc trưng di vật, cho thấy sơ kỳ thời đại đồ sắt ở miền Nam có niên đại khởi đầu từ khoảng giữa thiên niên kỷ I BC đến khoảng thế kỷ I-II AD.

Khảo cổ học Óc Eo

 
Lá vàng có miết khắc




Những di tích, di vật đầu tiên của văn hoá Óc Eo được phát hiện vào những năm 40 của thế kỷ XX. Từ đó tới nay đã có hàng trăm di tích được phát hiện, trong đó hàng chục di tích đã được nghiên cứu và khai quật. Hàng loạt vấn đề khoa học được nêu ra, một số đã được làm sáng tỏ bước đầu, song phần nhiều vẫn còn đang đợi những khám phá và kiến giải mới.
Khái niệm văn hóa Óc Eo có nhiều cách hiểu khác nhau. Theo L. Malleret, văn hóa Óc Eo có hai lớp văn hoá tương ứng với hai giai đoạn Phù Nam và Chân Lạp. Một số người khác coi văn hóa Óc Eo có niên đại tương ứng với thời kỳ tồn tại của nhà nước Phù Nam. Văn hóa Óc Eo còn được sử dụng để chỉ tất cả những di sản văn hoá cổ ở châu thổ sông Cửu Long.

Các di tích Tiền Óc Eo:
+ Giồng Cá Vồ, Giồng Phệt, Giồng Cá Trăng (Tp. Hồ Chí Minh).
+ Giồng Lớn (Bà Rịa-Vũng Tàu).
+ Giồng Nổi (Bến Tre).
+ Gò Cao Su, Gò Ô Chùa (Long An)
+ Gò Cây Tung (An Giang)
Các di tích Óc Eo điển hình:
+ Nền Chùa, Tân Hội (Kiên Giang).
+ Khu vực Óc Eo-Ba Thê (An Giang).
+ Gò Thành, Chợ Gạo (Tiền Giang).
+ Trâm Quỳ, Đức Hoà (Long An).
+ Gò Chùa - Phụng Sơn tự (Tp. Hồ Chí Minh).
+ Đá Nổi (Kiên Giang).
+ Gò Tháp (An Giang).

Cư dân văn hoá Óc Eo cư trú trên một địa bàn rộng lớn châu thổ sông Cửu Long. Sau nhiều ngàn năm được bồi đắp, đồng bằng sông Cửu Long được hình thành thành và ổn định. Tuy nhiên, theo kết quả nghiên cứu địa sử học gần đây thì trên mặt đồng bằng sông Cửu Long còn nhiều sông cổ, như sông cổ Hậu Giang (Proto-Bassac), sông Bình Minh (Proto-Hàm Luông), sông Vàm Cỏ cổ (Proto-Vaico), sông Trảng Bàng cổ (Proto-Trảng Bàng), sông Sài Gòn cổ (Proto-Saigon). Hệ thống sông ngòi dày đặc cùng với kênh rạch chằng chịt là những yếu tố sinh thái quan trọng trong việc hình thành và phân bố của các địa điểm văn hoá Óc Eo.
Người Óc Eo cư trú trên nhiều tiểu vùng sinh thái khác nhau và ở mỗi tiểu vùng này có những đặc trưng riêng về xây cất nhà ở, công trình kiến trúc, cách thức làm ăn, đi lại.

Các tiểu vùng sinh thái
Tiểu vùng tứ giác Long Xuyên



Tiểu vùng tứ giác Long Xuyên; Vùng Đồng Tháp Mười; Vùng ven biển Tây Nam (Vùng U Minh - Năm Căn); Vùng Rừng sác Duyên hải; Vùng ven biển Đông - từ sông Tiền đến Minh Hải; Vùng Đông Nam Bộ.



Loại hình di tích chính
Di tích cư trú nhà sàn.
Di tích xưởng thủ công.
Di tích kiến trúc đền thờ, đền-tháp.
Cảng thị
Đô thị
Di tích kiến trúc mộ hoả táng.
Các đường nước cổ.
loại hình di vật chủ yếu
Nhóm vật liệu xây dựng và trang trí kiến trúc
Nhóm tượng thờ bằng kim loại, đá và gỗ
Đồ gốm
Đồ trang sức, trang trí, nghi lễ bằng đá quý, vàng, bạc, thiếc, thủy tinh…




Đời sống
Nhà ở có hai loại chính là nhà sàn và nhà trên nền đất đắp cao, đi lại bằng thuyền, ngựa, voi…. Từ đây, chúng ta có thể phác thảo mô hình ở và đi lại của người dân như sau:
Ở vùng cao: nhà lá - bầu nước - đường lộ - xe cộ.
Ở vùng trũng: nhà sàn, nhà nền đất đắp - kênh đào - ghe thuyền.
Người Óc Eo trồng trọt trên nhiều loại thổ nhưỡng khác nhau, chủ yếu họ trồng lúa. Lúa có nhiều loại, có loại hạt tròn (lúa bản địa), có loại hạt dài (lúa ngoại nhập), có loại lúa hoang dại. Lúa được gieo cấy ở ruộng rẫy hay ruộng trũng. Hình thành những trang trại lớn, có vườn tược, kênh đào. Đã tìm thấy lúa gạo trong các di tích, minh văn, thư tịch cổ cũng nói về nghề trồng lúa của Óc Eo. Ngoài cây lúa, họ còn trồng dừa, mía, cau và nhiều loại cây quả khác. Hoạt động chăn nuôi thuần dưỡng khá phát triển. Ở các di tích đã tìm thấy nhiều di cốt động vật như trâu, bò, lợn, chó…
Ngoài các hoạt động sản xuất nói trên, hoạt động trao đổi buôn bán đặc biệt phát triển trong văn hoá Óc Eo, nhiều cảng thị lớn, khu đô thị, nhiều chợ… đã được phát hiện. Trong các di tích cũng đã tìm thấy khá nhiều tiền và mảnh cắt của tiền và những hiện vật có nguồn gốc từ bên ngoài, từ Tây Á, Địa Trung Hải, Trung Hoa, Ấn Độ. Cư dân văn hoá Óc Eo đã tham dự tích cực vào mạng lưới trao đổi buôn bán bằng đường biển nối từ Đông sang Tây. Mạng lưới trao đổi này không chỉ dừng lại ở mức độ liên vùng, liên khu vực mà thực sự đã mở rộng và hợp nhất vào hệ thống thương mại biển thế giới.
Trang phục của cư dân Óc Eo khá phong phú về kiểu, nam mặc khố, nữ mặc váy. Từ tượng thần đến tượng người đều có kiểu ăn vận như thế. Tuỳ Thư chép vua quan thời ấy "mặc triều phục bằng vải cỡ bối màu đỏ da cam, có dây đai lưng buông thả đến chân. Trên đầu đội mũ có đính bông vàng. Thường phục có màu trắng gồm nhiều lớp". Dựa trên tư liệu khảo cổ, đặc biệt là những tượng người, tượng thần đã phát hiện, Võ Sĩ Khải cho rằng phụ nữ mặc váy dài, phần trên để trần hoặc phủ kín; đàn ông đóng khố ngắn, phần trên để trần, cả nam lẫn nữ đều đeo nhiều đồ trang sức, bùa đeo. Người giàu có dùng trang sức vàng bạc, kim cương, đá quý; người nghèo đeo trang sức bằng đồng, thiếc, các loại hợp kim chì, thuỷ tinh, đất nung…



Đời sống tôn giáo rất phát triển. Đạo Hindu, du nhập từ Ấn Độ vào đây đã nhanh chóng chiếm vị thế quan trọng. Các thần Shiva, Vishnu được thờ ở nhiều nơi, trong đó Linga một hoá thân hay biểu tượng của thần Shiva được thờ phổ biến.Cùng với đạo Hindu, cư dân Óc Eo còn theo Phật giáo. Theo minh văn, đạo Phật đến thế kỷ V mới có mặt ở vùng này, song theo thư tịch cổ Trung Hoa, đạo Phật có mặt từ rất sớm - từ thế kỷ II AD. Pho tượng Phật sớm nhất là pho tượng bằng gỗ tìm thấy ở Đồng Tháp Mười có niên đại thế kỷ IV AD. Dấu tích Phật giáo tìm thấy ở nhiều di tích. Có lẽ, giống như người Việt và người Chăm, cư dân văn hoá Óc Eo khi tiếp nhận những tôn giáo từ bên ngoài cũng đã bản địa hoá chúng trên nhiều khía cạnh. Cả hai tôn giáo này đều in đậm dấu vết trong nghệ thuật tạo hình. Nghệ thuật tạo hình Óc Eo chủ yếu là tượng tròn, lúc đầu là tượng tròn bằng gỗ, về sau là tượng tròn bằng đá. Vẻ mặt của các pho tượng ở đây đều đầy đặn, toát lên vẻ hiền từ, thân hình mềm mại, từng nét uốn lượn nhẹ nhàng với các tượng Phật giáo. Với các tượng của Hindu giáo, người nghệ nhân muốn hướng theo cái thực, tạo ra cho thần một dáng dấp như người thật.
Các thư tịch cổ Trung Hoa cũng cho thấy sinh hoạt ca múa nhạc của cư dân Óc Eo. Chữ viết đã được cư dân Óc Eo sáng tạo, mà người ta gọi là chữ viết của thần Brahmi, theo ngôn ngữ Sanskrit, giống với chữ Pallava Ấn Độ. Loại chữ này được dùng từ thế kỷ II đến thế kỷ V AD. Đầu thế kỷ VI mới xuất hiện một loại chữ viết khác.
Căn cứ vào sử liệu cổ văn tự, đặc điểm kiến trúc, điêu khắc, trang trí, đồ gốm, địa tầng… và căn cứ vào một loạt niên đại C14 của các di tích, có thể thấy văn hoá Óc Eo hình thành, phát triển và lụi tàn trong quãng thời gian từ thế kỷ I đến thế kỷ VIII AD.
Những nghiên cứu và những khám phá khảo cổ học gần đây cho thấy có nhiều hợp nguồn tạo thành văn hoá Óc Eo, theo các nhà nghiên cứu chủ nhân văn hoá Óc Eo, hay là bộ phận lớn của nó, là cư dân nói tiếng Nam Đảo. Ngoài ra có thể còn có những bộ phận dân cư khác sống xen cài với cư dân nói tiếng Nam Đảo. Đa tộc người luôn được xem là đặc điểm của cư dân các nước Đông Nam Á từ thời cổ đại đến nay.
Nguồn gốc của văn hoá Óc Eo
Với những khám phá mới gần đây cả về di tích cả về di vật của giai đoạn Tiền Óc Eo ở Gò Cây Tung (An Giang), Gò Cao Su (Long An), Giồng Cá Vồ, Giồng Phệt (Cần Giờ, Tp. Hồ Chí Minh)…. Hà Văn Tấn cho rằng có một hay nhiều con đường tiến lên văn hoá Óc Eo từ những di chỉ thời đại kim khí, đặc biệt là các di chỉ thời đại sắt ở Nam Bộ. Tư liệu mới nghiên cứu gần đây ở những địa điểm như Hoà Diêm (Khánh Hoà), nhóm di tích mộ chum Đông Nam Bộ… cho thấy những yếu tố văn hoá Sa Huỳnh ở cực Nam Trung Bộ có đóng góp không nhỏ vào sự hình thành văn hoá Óc Eo. Những nguồn bản địa nữa tham góp vào quá trình này là những di tích thời đại kim khí ở lưu vực sông Vàm Cỏ, sông Cửu Long. Điều này có nghĩa là có thể tìm được cội nguồn văn hoá Óc Eo từ các nền văn hoá Tiền, Sơ sử bản địa, đặc biệt là những nhóm di tích sơ kỳ thời đại đồ sắt thuộc lưu vực của các sông lớn. Tham gia vào sự hình thành nền văn hoá này còn có nhiều yếu tố ngoại sinh khác, mà điển hình là tiếp xúc, trao đổi và tiếp biến với văn hoá Ấn Độ. Ngay ở giai đoạn Tiền Óc Eo đã thấy có ảnh hưởng của văn hoá Ấn Độ. Ảnh hưởng của văn hoá Ấn Độ đến văn hoá Óc Eo chỉ là sự tăng cường các ảnh hưởng đã có từ trước đó.
Như vậy, ngay từ đầu Công nguyên, văn hoá Óc Eo - nền văn hoá phân bố rộng khắp miền Đông và Tây Nam Bộ, vùng đất cơ bản của vương quốc cổ Phù Nam đã hình thành và phát triển một cách rực rỡ. Theo thư tịch cổ Trung Hoa, do sự tàn phá của một số lực lượng thù địch từ bên ngoài, cả vùng đồng bằng Nam Bộ trở nên hoang phế, thành vùng đầm lầy rộng lớn vào nửa sau thế kỷ VIII. Những nguyên nhân khác nữa như cơ cấu xã hội không thay đổi kịp với nhu cầu phát triển của thời đại, sự thay đổi tuyến hàng hải trong khu vực và biến đổi môi trường tự nhiên cũng làm cho văn hoá Óc Eo dần suy giảm và vùng đồng bằng này mất đi vị thế và vai trò của mình. Thế kỷ XIII, Châu Đạt Quan, một sứ thần của nhà Nguyên đi qua vùng này để bang giao với vương quốc Angkor vẫn ghi trong Chân Lạp phong thổ ký rằng "vùng này hoang vắng, trâu rừng tụ họp thành bầy, những con đường dốc tre chạy hàng trăm dặm".

Khảo cổ học Chămpa

 
Vũ nữ Trà Kiệu -Tuyệt tác điêu khắc Chămpa
1. Đôi nét về sự hình thành vương quốc Champa
Qua những ghi chép trong thư tịch cổ, bia ký và những di tích khảo cổ trên mặt và trong lòng đất, địa bàn Vương quốc Champa trùng hợp với địa bàn phân bố của nền văn hoá thời Sơ sử - văn hoá Sa Huỳnh. Theo thư tịch Trung Hoa cổ, vào cuối thế kỷ II (năm 192) Khu Liên đã lập ra nước Lâm Ấp.
Mặc dù còn nhiều ý kiến khác nhau xung quanh vấn đề vị trí, tính chất của Lâm Ấp và mối quan hệ giữa Lâm Ấp với Champa, nhưng một điều cần lưu ý, sự hình thành vương quốc Champa là quá trình tiến hoá của cấu trúc xã hội trong khoảng thời gian vài thế kỷ và nằm trong quỹ đạo phát triển chung của khu vực Đông Nam Á. Trên cơ sở những tổ chức xã hội tiền nhà nước đã phát triển tại những vùng địa phương của văn hoá Sa Huỳnh (đặc biệt là ở những lưu vực sông lớn) và dưới tác động của nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài, vào khoảng thế kỷ II đến thế kỷ IV AD một số chính thể dạng nhà nước sơ khai đã hình thành ở miền Trung Việt Nam. Tài liệu khảo cổ thu thập được qua khai quật Trà Kiệu (sông Thu Bồn, Quảng Nam), Cổ Luỹ-Phú Thọ (sông Trà Khúc, Quảng Ngãi) và thành Hồ (sông Đà Rằng, Phú Yên) cho thấy từ những thế kỷ sau Công nguyên ở những khu vực này đã có những trung tâm quân sự-chính trị-kinh tế đóng vai trò quan trọng trong mỗi lưu vực sông tương ứng. Di tích và di vật khảo cổ cũng chứng tỏ những chính thể dạng nhà nước sơ khai này có cùng trình độ phát triển kinh tế-xã hội và quan hệ giữa chúng là quan hệ vừa theo xu hướng liên minh, liên kết vừa theo xu hướng thu phục và cạnh tranh. Đến khoảng thế kỷ V AD những xu thế này dẫn đến sự ra đời của vương quốc Champa.
2.Những yếu tố tác động đến sự hình thành nhà nước ở miền Trung Việt Nam.
Kết quả khai quật Trà Kiệu, Gò Cấm (Duy Xuyên, Quảng Nam), di chỉ Hậu Xá I (Hội An)… cho thấy tầng văn hoá sớm nhất ở những địa điểm này có niên đại khoảng thế kỷ I, II AD và trùng hợp với niên đại của thư tịch cổ về một nhà nước sớm. Nếu so sánh thời gian ta thấy có sự trùng khít giữa thời điểm kết thúc của văn hoá Sa Huỳnh (những khu mộ chum Sa Huỳnh muộn nhất ở Gò Dừa (Duy Xuyên, Quảng Nam), Bình Yên (Quế Sơn, Quảng Nam), Lai Nghi (Điện Bàn, Quảng Nam), Hoà Diêm (Cam Ranh, Khánh Hoà)… được xác định có niên đại kết thúc khoảng thế kỷ I đến II AD) với niên đại khởi đầu của những nhà nước sơ khai ở miền Trung Việt Nam. Trong tình hình nghiên cứu hiện nay, tư liệu địa tầng và hiện vật khảo cổ chưa nhiều để tìm hiểu đầy đủ bản chất và nội dung cụ thể quá trình chuyển tiếp và chuyển biến giữa hai nền văn hoá Sa Huỳnh- Champa. Tuy vậy, sự trùng hợp về không gian phân bố, thời gian khởi đầu, kết thúc và tiếp nối của hai văn hoá; sự nối tiếp trong sản xuất và sử dụng của một số loại hình hiện vật như đồ gốm gia dụng, đồ trang sức bằng mã não, thuỷ tinh; sự tiếp tục tồn tại của táng tục hoả thiêu giữa hai nền văn hoá; sự phát triển của những thiết chế chính trị phân tầng; sự chuyên hoá ở mức độ nào đó của sản xuất thủ công và cấu trúc xã hội dựa trên cơ sở tầng lớp của xã hội thời Sa Huỳnh (nền tảng để hình thành cấu trúc chính trị mới - nhà nước)… một mặt hướng các nhà nghiên cứu tới việc tìm kiếm những nguồn gốc bản địa của văn hoá Champa, mặt khác giúp đánh giá đúng mức vai trò của những yếu tố ngoại sinh bao gồm cả tiếp xúc, trao đổi văn hoá, kinh tế, làn sóng dịch chuyển dân cư trong việc hình thành những đặc trưng văn hoá mới. Đa số ý kiến đồng thuận với giả thiết văn hoá Champa nảy sinh từ văn hoá Sa Huỳnh, người Chăm cổ là con cháu người Sa Huỳnh cổ. Theo Hà Văn Tấn chủ nhân văn hoá Sa Huỳnh là cư dân Tiền Chăm hay Sơ Chăm, có nghĩa cũng là cư dân nói tiếng Nam Đảo như người Chăm sau này. Dưới ánh sáng của khối tư liệu mới hiện nay về tính địa phương của văn hoá Sa Huỳnh giai đoạn muộn ở hai vùng Trung Trung Bộ và Nam Trung Bộ, có thể giả thiết rằng, những nhóm tộc người thuộc một số ngữ hệ khác nhau đã đóng góp vào quá trình khởi dựng nền văn minh Champa, trong đó vai trò chủ đạo là của cư dân nói tiếng Nam Đảo.
Bất kể cấu trúc Lâm Ấp và những chính thể tương đương Lâm Ấp như thế nào, những nghiên cứu mới nhất cho thấy những chính thể này đều được bắt nguồn từ những dạng văn hoá-xã hội bản địa. Những yếu tố văn hoá ngoại sinh Trung Hoa, Ấn Độ… đã có mặt trước khi những chính thể này ra đời. Từ Sa Huỳnh qua Lâm Ấp đến Champa là cả quá trình diễn biến dần dần và lâu dài mà trong đó cả hai nhóm nguồn lực nội sinh và ngoại sinh có mối quan hệ chặt chẽ và tương hỗ.
3.Cấu trúc của vương quốc Champa
Trước đây, dựa vào sử liệu Trung Hoa, nhiều học giả đã cho rằng vương quốc Champa được tổ chức theo mô hình chính quyền quan liêu tập quyền kiểu Tần-Hán. Những kết quả nghiên cứu mới nhất của C. Jasques, O.W. Wolter, K. Taylor đã chứng minh rằng Champa, Phù Nam (thậm chí cả Văn Lang, Âu Lạc) là những liên hiệp, liên minh của nhiều tiểu quốc có nhiều nét tương đồng về văn hoá. Theo GS. Trần Quốc Vượng, mô hình một tiểu quốc Champa dựa trên trục quy chiếu là dòng sông phải có ba thiết chế - ba trung tâm (tính theo dòng chảy của sông, từ núi ra biển) là: trung tâm tôn giáo, tạm gọi là Thánh địa (thường về phía Tây, đầu nguồn sông) - trung tâm chính trị (thường nằm ở bờ Nam sông) và trung tâm thương mại - kinh tế (thường nằm ở gần sát cửa sông - cửa biển).

4.Vấn đề Ấn hoá và Phi Ấn hoá
Từ thập kỷ 60 trở về trước, nhiều học giả phương Tây như G. Coedès, H. Maspéro… thường coi Champa là một quốc gia Ấn hoá. Trên thực tế, ảnh hưởng văn hoá-tôn giáo của Ấn Độ đối với Champa là rất mạnh mẽ và không thể phủ nhận. Song, người ta cũng nhận thấy nhiều yếu tố phi Ấn, khác Ấn ở đây. Paul Mus nhấn mạnh tới những đặc điểm bản địa - Tiền Ấn Độ hoá - trong văn hoá Champa. Trong quá trình tiếp thu văn hoá Trung Hoa, Ấn Độ… cư dân Champa đã kết hợp hài hoà giữa yếu tố văn hoá địa phương (nội sinh) và văn hoá bên ngoài (ngoại sinh) trên cơ sở phù hợp với điều kiện môi trường sinh thái, tính cách, tâm lý tộc người, điều kiện xã hội và lịch sử đặc thù để sáng tạo ra nền văn hoá của mình có những nét chung, song có nhiều nét riêng so với những văn hoá láng giềng khác ở Đông Nam Á cùng chịu ảnh hưởng của văn minh Ấn Độ.
Tư liệu khảo cổ học cũng cho thấy ảnh hưởng của văn hoá Trung Hoa, Ấn Độ và văn hoá Đông Sơn đối với văn hoá Sa Huỳnh từ những thế kỷ BC. Những ảnh hưởng này được diễn ra qua trao đổi buôn bán hàng hoá, đồng thời cũng là trao đổi kỹ thuật giữa các khu vực. Mối quan hệ - ảnh hưởng văn hoá - này được đẩy mạnh từ đầu thiên niên kỷ I Công nguyên. Theo các nhà nghiên cứu, nguyên nhân chủ yếu của việc tăng cường các ảnh hưởng của văn hoá Ấn Độ chính là nhu cầu thương mại. Các nguồn tư liệu khác nhau cho biết, nguồn hương liệu, gỗ trầm, các loại dầu thơm, long não, cánh kiến trắng và đặc biệt là vàng vô cùng phong phú ở Đông Nam Á đã thu hút các thương nhân Ấn Độ tới Đông Nam Á nói chung và Champa nói riêng. Theo sau các thương nhân, hay cùng các thương nhân là các tu sĩ Hindu giáo, các nhà sư Phật giáo…. Do thâm nhập chủ yếu qua văn hoá mà lại bằng những phương thức hoà bình, tự nguyện, nên quá trình tiếp xúc và trao đổi với văn hoá Ấn Độ (và với cả văn hoá Trung Hoa, văn hoá Đông Nam Á) đã thẩm thấu và để lại những dấu ấn đậm nét trong mọi khía cạnh đời sống văn hoá Champa từ vật chất đến đời sống tinh thần-tâm linh.

5. Vài nét về tình hình nghiên cứu khảo cổ họcChampa
Từ cuối thế kỷ XIX, văn hoá Champa đã được nhiều học giả nước ngoài, đặc biệt là người Pháp, quan tâm nghiên cứu. Họ đã tiến hành nhiều đợt khảo sát sưu tầm những di tích kiến trúc và điêu khắc Champa. Đặc biệt từ năm 1898 với việc phát hiện khu di tích Mỹ Sơn, việc nghiên cứu Champa càng được đẩy mạnh. Những nghiên cứu giai đoạn này đạt nhiều thành tựu đáng kể và đặt nền móng cơ bản cho những giai đoạn sau. Tuy vậy, những nghiên cứu của người Pháp chỉ tập trung vào các lĩnh vực kiến trúc, điêu khắc và bia ký. Giai đoạn này hầu như không ai quan tâm nghiên cứu đời sống sinh hoạt của cư dân qua di tích và di vật khảo cổ học.
Từ sau ngày đất nước thống nhất (năm 1975), việc nghiên cứu văn hoá Champa được đẩy mạnh trên nhiều lĩnh vực và chủ yếu do các nhà nghiên cứu Việt Nam tiến hành. Tuy vậy, cho đến năm 1985, vẫn chỉ là những cuộc điều tra sưu tầm với hai cuộc khai quật nhỏ của ĐHTH Hà Nội và các mảng, các đề tài nghiên cứu còn rất hạn hẹp. Hầu như chúng ta chưa có ý niệm gì về nơi cư trú, về đời sống sinh hoạt, về các ngành nghề thủ công, về cơ cấu kinh tế của cư dân.
Từ sau năm 1985, đặc biệt từ thập kỷ 90 trở lại đây, tình hình nghiên cứu Champa được đẩy mạnh lên một bước mới. Kế thừa thành tựu nghiên cứu của các thế hệ học giả đi trước, những người nghiên cứu giai đoạn này đã bổ sung và hoàn thiện hơn kết quả nghiên cứu trong các lĩnh vực đã được thực hiện trước đây như: kiến trúc, điêu khắc, văn bia…. Dưới góc độ khảo cổ học, họ đã triển khai nhiều đề tài mới như: khai quật các di chỉ cư trú; nghiên cứu đô thị, thành cổ, thương cảng; việc sản xuất đồ gốm, đồ trang sức và các ngành nghề thủ công khác; kỹ thuật trị thuỷ và sử dụng nước; đời sống tâm linh…. Thành tựu lớn nhất trong giai đoạn này là việc phát hiện và nghiên cứu những nơi cư trú của cư dân Champa, nghề làm đồ gốm và gạch ngói cũng như trang trí, vật phẩm dâng cúng bằng đất nung…. Các cuộc điều tra khảo sát đã phát hiện thêm nhiều di tích, di vật mới như các phế tích kiến trúc, tác phẩm điêu khắc đá, đồ gốm… làm phong phú thêm loại hình di tích di vật. Tổng số địa điểm phát hiện có di tích di vật văn hoá Champa ở đầu thế kỷ XX chỉ là 229, còn vào cuối thế kỷ con số này được nâng lên gần 300 địa điểm.
Nhiều địa điểm được khai quật trên diện rộng và trong nhiều năm liền. Những vấn đề thường được tập trung giải quyết là nguồn gốc, mối quan hệ của văn hoá Champa với văn hoá Sa Huỳnh, ảnh hưởng mang tính "xúc tác" của các yếu tố ngoại sinh Hán, Ấn Độ, Đông Nam Á…. Những vấn đề khác như di vật hay các loại hình cư trú, thờ tự, thương cảng và biện pháp trị thuỷ… cũng đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ.
Nghề sản xuất đồ gốm của cư dân Champa ở giai đoạn sớm thu hút sự quan tâm đặc biệt của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước. Dựa trên khối tư liệu khổng lồ từ các cuộc khai quật Hậu Xá, Trà Kiệu, Nam Thổ Sơn, Bãi Làng, Lý Sơn, Cổ Luỹ, thành Hồ… nhiều nhận xét và kết luận về chất liệu, hoa văn, kỹ thuật sản xuất gốm đã được đưa ra.
Vương quốc Champa nổi tiếng trong thư tịch với những đồ kim hoàn lộng lẫy bằng vàng, bạc, thuỷ tinh, đá quý… song chứng cứ từ các cuộc khai quật khảo cổ học các địa điểm cư trú hầu như không cung cấp bất cứ tư liệu xác thực nào. Điều này là trở ngại lớn cho việc tìm hiểu đời sống nghệ thuật và tâm linh của cư dân. Chúng ta chỉ biết qua ghi chép và qua các sưu tập tư nhân, rất khó xác định chính xác nguồn gốc xuất xứ và niên đại.
Tóm lại, thời gian vừa qua, ngành Champa học Việt Nam đã làm được nhiều việc khi đi sâu nghiên cứu văn hoá Champa ở khía cạnh đời sống của cư dân. Những di sản vật thể và cả phi vật thể mới thu thập được này đã đem lại những hiểu biết mới hoặc giúp điều chỉnh những hiểu biết cũ về cư dân Champa cổ, văn hoá Champa trong mối quan hệ với các tộc người, các văn hoá, các quốc gia…. Thêm nhiều cứ liệu mới, kiến thức càng mở rộng nhưng cũng làm nảy sinh nhiều vấn đề mới. Cái chưa làm được cùng với cái đã làm chưa xong đặt ra nhiều thách thức và trách nhiệm đối với những người quan tâm đến nền văn hoá rực rỡ một thời ở Đông Nam Á.

6. Loại hình di tích, di vật
6.1. Đền-tháp
Tên gọi: Kể từ khi được phát hiện lại, các di tích kiến trúc bằng gạch của vương quốc Champa được gọi bằng nhiều tên khác nhau như tháp, tháp-lăng mộ, đền-tháp…. Đến nay, các di tích kiến trúc này được thống nhất tên gọi là các đền-tháp Champa (Bản ảnh 35).
Cư dân Champa đã xây dựng được nhiều công trình kiến trúc đền-tháp Ấn Độ giáo và Phật giáo rất quy mô với một kỹ thuật điêu luyện, tinh xảo và một nền nghệ thuật tạo hình đầy cá tính trong suốt nhiều thế kỷ. Ngày nay vẫn tồn tại những nhóm đền-tháp tại các di tích nổi tiếng như Mỹ Sơn, Đồng Dương, Po Nagar, Dương Long… cùng với hàng ngàn tác phẩm điêu khắc bằng sa thạch và hợp kim trưng bày tại các bảo tàng. Mỹ thuật Champa đã góp phần tạo nên diện mạo độc đáo của nền nghệ thuật Đông Nam Á bên cạnh một nền nghệ thuật Ấn Độ kỳ vĩ.Tháp Po Nagar, Nha Trang
Hiện nay, theo thống kê, hiện còn lại tất cả 19 nhóm đền-tháp đang tồn tại trên mặt đất, tính từ tỉnh Quảng Nam đến Bình Thuận và Đắk Lắk được phân bố như sau:
Quảng Nam: Mỹ Sơn, Bằng An, Khương Mỹ, Chiên Đàn.
Bình Định: Phước Lộc, Cánh Tiên, Bánh Ít, Bình Lâm, Thủ Thiện, Dương Long, Hưng Thạnh.
Phú Yên: Nhạn Tháp.
Khánh Hoà: Po Nagar.
Ninh Thuận: Hoà Lai, Po Klaung Garai, Po Rôme.
Bình Thuận: Po Đam (Po Tầm), Phú Hài.
Đắk Lắk: Yang Prong.
Niên đại của những đền-tháp này trải dài từ thế kỷ thứ VII-VIII đến thế kỷ thứ XVII-XVIII. Theo văn bia, phần lớn những đền-tháp trước thế kỷ thứ VII-VIII được dựng bằng gỗ, nhưng sau những cơn binh lửa, những ngôi đền này đều bị thiêu hủy, cho đến khoảng thế kỷ thứ VII-VIII mới xuất hiện những đền-tháp xây bằng gạch nung và sa thạch.
Kiến trúc Champa chịu ảnh hưởng nghệ thuật Ấn Độ. Một tổng thể nhóm đền-tháp bao gồm một ngôi đền chính, tiếng Champa gọi là kalan, kết hợp với những đền thờ nhỏ, những công trình phụ và được bao quanh bởi những bờ tường thấp. Thông thường, một nhóm đền-tháp Champa phải có ít nhất 4 công trình là: mandapa (tháp Nhà), gorupa (tháp Cổng), kalan (điện thờ) và kosa grha (tháp Hoả).Kalan tượng trưng cho ngọn núi thần thoại Meru, cái trục của vũ trụ, trung tâm hoàn vũ; bao quanh núi Meru là các thiên thể và những đại dương được tượng trưng bằng những ngôi đền nhỏ và những bờ tường thấp. Hướng chung của một tổng thể thường là hướng Đông, hướng mặt trời mọc, nơi mở đầu cho sự vận hành của thời gian và vũ trụ.
Kalan Champa là một kiến trúc có bình đồ hình vuông, mái tháp hình chóp có ba tầng và một đỉnh tháp bằng sa thạch.
Đền-tháp Champa xây bằng gạch nung, ghép với những mảng trang trí và chịu lực bằng sa thạch ở đế tháp, khung cửa, trán cửa (tym-pan), đường diềm, vật trang trí góc và đỉnh tháp…
Về kỹ thuật xây dựng của người Champa cổ, hiện nay còn nhiều giả thiết và ý kiến khác nhau. Tuy nhiên, phần lớn các nhà nghiên cứu đã đồng thuận về chất kết dính có nguồn gốc nhựa thực vật.
Điêu khắc: Đền-tháp Champa được trang trí tinh tế, cầu kỳ, thể hiện sự kết hợp hài hoà giữa nghệ thuật điêu khắc và nghệ thuật kiến trúc. Chủ đề chính trong điêu khắc trang trí tháp là hoa lá, hình người, hình động vật, các vị thần, các con vật huyền thoại theo nội dung tôn giáo hoặc sử thi Ấn Độ .
Dựa vào các yếu tố trang trí, sự thay đổi của kết cấu kiến trúc, sự xuất hiện hay mất đi của các motif trang trí, kết hợp với những tài liệu liên quan (bia ký, các nguồn sử liệu…), ảnh hưởng của các phong cách từ những nền nghệ thuật xung quanh như Ấn Độ và các nước láng giềng khác (như Môn, Khơme, Việt, Java…), các nhà nghiên cứu đã chia nghệ thuật trang trí và xây dựng đền tháp Champa từ thế kỷ thứ VII đến thế kỷ XV ra làm nhiều phong cách khác nhau.
Điêu khắc Champa nổi tiếng với phù điêu và tượng tròn. Riêng phù điêu cũng đã có nhiều hình thức. Ngoài chạm khắc trên chất liệu đá còn có chạm khắc trực tiếp lên gạch tháp hay tạo hình trang trí trên gạch trước khi nung. Nét đặc sắc của điêu khắc Champa là những hình chạm khắc dưới dạng phù điêu đều mang xu hướng hướng tới tượng tròn - phù điêu nổi cao. Từng nhân vật, từng nhóm nhân vật như tách rời nhau, độc lập và gần như biến thành những tượng tròn riêng biệt.
Sưu tập hiện vật điêu khắc lớn nhất hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng điêu khắc Champa ở Tp. Đà Nẵng. Nhiều tác phẩm khác được giữ tại các bảo tàng tỉnh, các phòng VHTT huyện, thậm chí ở cả một số UBND xã. Một số không ít hiện vật lưu lạc ở các bảo tàng nước ngoài và trong các sưu tập tư nhân trong và ngoài nước.
Loại hình và chủ đề điêu khắc khá đa dạng, liên quan đến Ấn Độ giáo, Phật giáo, tín ngưỡng bản địa… và có các nhóm chính sau:
- Tượng thờ.
- Đài thờ.
- Trán cửa (lá nhĩ/tym-pan).
- Các trang trí kiến trúc trên tháp.

6.2. Minh văn
Tấm bia Võ Cạnh (Nha Trang, hiện trưng bày ở sân Bảo tàng Lịch sử Việt Nam) có niên đại cuối thế kỷ III đầu thế kỷ IV (niên đại trước đây đưa ra là thế kỷ thứ II) là bi ký sớm nhất khắc bằng chữ Sanskrit. Sau quá trình tiếp biến văn hoá-ngôn ngữ, người Champa đã sáng tạo ra hệ thống văn tự của mình để ghi tiếng Chăm. Minh văn viết bằng chữ Champa sớm nhất được tìm thấy ở Đông Yên Châu (Quảng Nam) có niên đại thế kỷ IV.
Nội dung của các minh văn thường gắn với việc lập đền thờ thần, dựng tượng hoặc ghi nhớ một sự kiện quan trọng nào đó. Minh văn được khắc trên vách núi, trên bia, cột đền, trụ cửa, bệ thờ…
Cho tới nay, số minh văn Champa đã biết là 208 văn bản, trong số đó có 69 bản đã dịch và công bố chủ yếu nhờ công lao và nghiên cứu của các học giả Pháp mà điển hình là A. Bergaigne, E. Aymonier. Người Chăm hiện nay cũng không đọc được các văn bia cổ vì đang sử dụng một hệ thống văn tự hoàn toàn khác.

6.3. Thành cổ
Thành cổ là một bộ phận hữu cơ của văn hoá Champa. Người Champa đã xây dựng nhiều toà thành trong phạm vi vương quốc của mình. Phần lớn những thành lũy này đã bị phá huỷ nhiều lần, nhưng do vị thế đắc địa lại thường được tái dựng, tái sử dụng qua nhiều thời đại. Vì vậy, thành cổ Champa thường ẩn chứa trong lòng nhiều lớp trầm tích văn hoá từ sớm đến muộn và không ít trường hợp được người Việt cấu trúc lại và tái sử dụng. Nhiều toà thành được xây dựng trên cơ tầng cư trú sớm hơn, do vậy niên đại của lớp cư trú không thể coi là niên đại của xây dựng thành. Điển hình như thành Trà Kiệu, niên đại của tầng cư trú sớm nhất của Trà Kiệu hiện nay được xác định là từ thế kỷ I AD, nhưng kết quả khai quật tường thành Nam cho thấy có lẽ tường thành được đắp sớm nhất từ thế kỷ III, IV AD. Thành Cổ Luỹ (Quảng Ngãi) được xây dựng trên lớp cư trú Champa sớm có niên đại đầu thế kỷ II AD và những kiến trúc bằng gạch sớm nhất ở đây có niên đại khoảng từ thế kỷ IV AD. Những nghiên cứu mới đây tại thành Hồ (Phú Yên) cũng cho thấy kết quả tương tự.
Theo sử liệu, vào thế kỷ thứ IV, người Champa đã học được cách xây thành từ Trung Hoa. Những phát hiện khảo cổ học gần đây ở Trà Kiệu, Cổ Luỹ-Phú Thọ, thành Hồ cũng cho thấy điều này. Sử liệu ghi chép đầu tiên về thành được đề cập trong Thuỷ kinh chú (cuối thế kỷ V đầu thế kỷ VI), sau đó trong cuốn Đồ bàn thành ký (thế kỷ XIX), thành Chà Bàn được mô tả khá tỉ mỉ và bên cạnh đó còn đề cập tới 12 toà thành khác…
Bản vẽ thành Trà Kiệu của Clayes
Trên dải đất miền Trung hiện nay còn vết tích của một số thành cổ Champa như thành Cổ Luỹ (Quảng Trị), thành Hoá Châu, thành Lồi (Thừa Thiên Huế), thành Trà Kiệu (Quảng Nam), thành Châu Sa, thành Cổ Luỹ-Phú Thọ (Quảng Ngãi), Tra (Cha) thành, thành Đồ Bàn (Bình Định), thành Hồ (Phú Yên), thành Diên Khánh (Khánh Hoà)…. Những thành này thường được xây dựng ở những vị trí xung yếu, cửa sông, cận biển hay ngã ba sông trong một quy hoạch tổng thể của vùng lấy sông làm trục chính và thường nằm bên bờ Nam của sông.
Những kết quả khảo sát và khai quật gần đây ở các thành như Trà Kiệu, Cổ Luỹ, thành Hồ… cho thấy, khi xây dựng toà thành, người Champa đã lợi dụng tối đa địa hình tự nhiên như sông, gò, núi… để tăng cường tính phòng thủ/phòng ngự của tường thành và hào luỹ. Thành Champa thường có cấu trúc kép hay thậm chí nhiều lớp.
Tuy vậy, cho đến nay chưa có bất kỳ một thành nào được khai quật một cách có hệ thống nên chưa có một bình đồ cụ thể về tổng thể quy hoạch thành Champa. Có thể vòng thành bên ngoài thường có hình dạng nương theo địa hình, toà thành bên trong được đắp khá quy chỉnh. Những cuộc khai quật cắt thành Trà Kiệu hay thành Hồ mới đây cho thấy: tường thành thường có mặt cắt ngang hình thang, bên ngoài dốc đứng, bên trong thoai thoải, hai bên ốp gạch, dưới chân thành kè đá, lòng tường đắp đất lèn chặt và tường thành thường được gia cố nhiều lần.
6.4. Cảng thị
Người Champa là cư dân hướng biển. Biển đóng vai trò quan trọng và ảnh xạ trong nhiều khía cạnh đời sống của họ. Địa hình biển miền Trung (bờ và đảo ven bờ) cũng rất thuận lợi cho thuyền bè neo đậu, trú ngụ. Ngay từ thời văn hoá Sa Huỳnh ở đây đã hình thành những cảng thị sơ khai, có vai trò quan trọng trong hoạt động tiếp xúc, giao lưu văn hoá trong ngoài vương quốc.Tiền Chămpa trong sưu tập Hồ Văn Em, TP.Đà Nẵng
Dựa vào những phát hiện đồ gốm Trung Hoa, gốm và thuỷ tinh Islam… tại nhiều các cửa sông ven biển lớn từ Quảng Trị vào đến Ninh Thuận, kết hợp với ghi chép trong thư tịch cổ, một số nhà nghiên cứu đã xác quyết một số vết tích cảng thị của người Champa. Cảng thị nổi tiếng nhất là Champapura thời Lâm Ấp ở Cửa Đại (Hội An, Quảng Nam) với tiền cảng chính là Cù Lao Chàm. Ở Quy Nhơn, Bình Định còn lưu dấu cảng Thị Nại. Các cảng này đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và hưng thịnh của con đường tơ lụa quốc tế trên biển vào những thế kỷ IX-X và những thế kỷ muộn hơn. Tài liệu khảo cổ học của các đợt khảo sát xác nhận sự tồn tại các cảng Ròn, Gianh, Lý Hoà, Nhật Lệ ở Quảng Bình; cửa Tùng (Luật), Mai Xá (trên cảng cửa Việt hiện nay 3-4km) ở Quảng Trị; cửa Eo, cửa Tư Hiền ở Thừa Thiên Huế; Nha Trang ở Khánh Hoà, Phan Rang ở Ninh Thuận… có nhiều khả năng từng là các cảng thị Champa.
Theo các nhà nghiên cứu, cấu trúc thương cảng Champa dường như khá thống nhất theo một bình đồ từ ngoài vào như sau: Cửa biển - Đầm nước - tháp - thành hay thị tứ . Tuy vậy, cần phải thêm vào cấu trúc này vai trò che chắn, tiền tiêu/tiền cảng của hệ thống đảo ven bờ. Hệ thống đảo này liên quan một cách hữu cơ với những cấu trúc trong đất liền theo một trục sông chủ đạo. Ví dụ điển hình về cấu trúc này là Cù Lao Chàm (Chiêm Bất Lao) ngoài cửa sông Thu Bồn. Cù Lao Ré ở Quảng Ngãi. Có thể nhận rõ vai trò của các đảo-cửa sông khác ngay trên bản đồ địa lý miền Trung hiện đại.

6.5. Địa điểm cư trú
Cho tới nay, đã phát hiện và khai quật hàng chục địa điểm thuộc văn hoá Champa. Phần lớn di tích có tính chất phức hợp, đa chức năng. Dựa trên nghiên cứu vết tích cư trú còn lại có thể thấy những di tích cư trú Champa, đặc biệt là những di tích thuộc giai đoạn nửa đầu thiên niên kỷ I AD phân bố trùng khớp với địa bàn của văn hoá Sa Huỳnh trước đó. Hiện tượng chung là trên các khu mộ văn hoá Sa Huỳnh thường có lớp văn hoá Champa, hay những di tích Champa hay được tìm thấy kề cận những khu mộ chum của văn hoá Sa Huỳnh.
Tính chất của các địa điểm rất đa dạng và phức tạp, những địa điểm này thường đa chức năng (cư trú, phòng vệ, trung tâm chính trị, kinh tế…), trong khi các cuộc khai quật lại có diện tích hạn chế. Thông thường các di tích như thành hay đền-tháp trong một phức hợp di tích thường được xây dựng trên nền của lớp cư trú sớm hơn, ví dụ điển hình như khu di tích Trà Kiệu, Cổ Luỹ, thành Hồ…
Niên đại của các địa điểm: Có hai nhóm hay chính xác hơn có ba giai đoạn ứng với tính chất văn hoá sớm muộn của các di tích. Nhóm 1: giai đoạn sớm từ Công nguyên đến thế kỷ II, III AD. Nhóm 2: từ thế kỷ III AD đến thế kỷ VII,VIII và nhóm 3: từ thế kỷ IX-X… về sau. Hầu hết các địa điểm đều có niên đại kéo dài suốt từ nhóm niên đại 1 đến 2, điển hình như Trà Kiệu, Hậu Xá I (di chỉ), Trảng Sỏi…. Một số khác chỉ thuộc nhóm niên đại 3 như Nam Thổ Sơn, Bãi Làng…

7. Đời sống của cư dân
Người Champa có một nền kinh tế đa ngành nghề. Trước tiên là nghề nông trồng lúa nước, dâu tằm, bông, hoa màu (với nhiều giống cây ngoại nhập từ Nam Thái Bình Dương như mía, khoai…); nghề rừng, khai thác lâm thổ sản gỗ quý như quế, trầm hương, hồ tiêu…; nghề biển; nghề thủ công (rèn sắt, dệt vải lụa, làm gốm, gạch, ngói, chế tạo đồ thuỷ tinh, đá ngọc, khai khoáng và làm mĩ nghệ vàng bạc…), phát triển nghề buôn bán đường biển, đường sông và đường núi. Cơ cấu kinh tế này là sự kế thừa và phát huy cơ cấu có sẵn tuy chưa hoàn chỉnh của văn hoá Sa Huỳnh trước đó. Một số ngành nghề như làm gốm, gạch, ngói, rèn sắt, chế tạo đồ trang sức bằng thuỷ tinh, buôn bán bằng đường biển đã được xác nhận qua những tài liệu khảo cổ học những năm gần đây. Những thành tựu của các ngành nghề khác mới chỉ được biết qua những tư liệu gián tiếp, qua những ghi chép trong thư tịch cổ Trung Hoa, bia ký…
Một trong những thành tựu nổi bật của Champa là những tiến bộ về nông nghiệp. Người Chăm đã tạo ra giống lúa chịu hạn. Khi di thực giống lúa này ra châu thổ Bắc bộ (trong sử gọi là lúa Chiêm Thành hay lúa Chiêm, lúa Chăm), gieo cấy cả hai vụ. Từ tháng 7 đến tháng 10, trồng lúa trắng ở ruộng bạch điền, từ tháng 12 đến tháng 4, trồng lúa đỏ ở ruộng xích điền. Để thích ứng với vùng đất khô hạn Trung Bộ, cư dân vương quốc Champa đã có hàng loạt các biện pháp trị thuỷ và sử dụng nước như cọn nước, giếng, kênh, hồ đập…. Đặc biệt là hệ thống khai thác những nguồn nước mạnh nổi hay ngầm, phân cản, chia dòng chảy sử dụng nước vào các mục đích khác nhau chống xói mòn ở những vùng đồi gò hay cồn cát… ("thuỷ hệ" chữ dùng của Trần Quốc Vượng). Có nhiều khả năng những "thuỷ hệ" của người Champa mà sau này người Việt kế thừa và sử dụng là một trong những biện pháp trị thuỷ độc đáo, thích ứng tuyệt vời với môi trường sinh thái vừa khô hạn vừa lũ lụt miền Trung Việt Nam. Vết tích của những "thuỷ hệ" này hiện nay vẫn còn thấy ở nhiều vùng thuộc các tỉnh Quảng Trị, Quảng Nam, Ninh Thuận, Bình Thuận…. Những công trình sử dụng nước như giếng hay trị thuỷ như đập, kênh mà dấu vết còn lại cho đến tận ngày nay ở miền Trung Việt Nam cũng là minh chứng cho chiến lược thích nghi này. Người Champa đã biết khai thác và tận dụng mọi thế mạnh của các hệ sinh thái ở miền Trung Việt Nam. Những giếng nước của người Champa không những phục vụ cho nhu cầu tôn giáo, dân dụng, mà còn được phục vụ cho mục đích thương mại. Nhiều sử liệu còn ghi lại việc người Champa bán nước ngọt cho các thuyền buôn nước ngoài.
Nghề làm ngói, gạch hình thành và phát triển từ rất sớm. Tại những địa điểm khảo cổ học có niên đại từ đầu Công nguyên như Gò Cấm, Trà Kiệu, Vườn Đình-Khuê Bắc (lớp trên)… đã phát hiện ra nhiều loại ngói khác nhau. Theo các nhà nghiên cứu, nghề sản xuất vật liệu xây dựng này có nguồn gốc từ bên ngoài, có nhiều khả năng từ Trung Hoa (trực tiếp hoặc gián tiếp qua miền Bắc Việt Nam), nếu so sánh loại vật liệu này với những vật liệu tương tự ở Trung Quốc, Miền Bắc Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên… cùng giai đoạn.

Ngói Chăm cổ ở Gò Cấm, Duy Xuyên, Quảng Nam

Tuy vậy, cũng có thể thấy ngay rằng kỹ thuật ngoại nhập này đã được cư dân bản địa tiếp thu một cách nhuần nhuyễn và khéo léo. Những trung tâm sản xuất gạch ngói chắc chắn đã hình thành từ rất sớm để phục vụ cho các công trình kiến trúc liên quan tới chính trị, tôn giáo.
Sản xuất ngói có hai giai đoạn sớm và muộn. Ngói sớm thế kỷ I, II AD tìm thấy ở lớp văn hoá dưới cùng của Trà Kiệu, Gò Cấm (Quảng Nam) và lớp văn hoá trên của Vườn Đình-Khuê Bắc (Tp. Đà Nẵng) có mặt bụng in dấu vải mịn lót chống dính, mặt lưng có văn thừng, loại ngói này có lẽ dùng để lợp ở những kiến trúc gỗ, tre. Ngói muộn từ thế kỷ III, IV AD cũng được làm bằng khuôn nhưng mặt bụng không thấy dấu vải và lưng thường có văn chải, văn in… giai đoạn muộn này cũng là thời gian xuất hiện loại ngói lợp ở hiên với những đầu ngói dương trang trí hình mặt người và những hình khác. Gạch cũng đã thấy xuất hiện từ lớp sớm của Trà Kiệu. Từ khoảng thế kỷ IV-V trở đi, do nhu cầu xây dựng các công trình kiến trúc công cộng và tôn giáo, nghề sản xuất gạch, ngói và chi tiết trang trí kiến trúc phát triển mạnh. Có thể đã hình thành những công xưởng nhà nước phục vụ cho nhu cầu này.
Nghề làm gốm cũng rất phát triển, đa dạng, phong phú về kiểu loại, trang trí, tiến bộ về kỹ thuật (lọc đất, bàn xoay, lửa nung khống chế đều…). Bên cạnh việc kế thừa một số loại hình gốm gia dụng của văn hoá Sa Huỳnh, người Champa đã sớm tiếp thu và phát triển những kỹ thuật làm gốm ngoại nhập từ Trung Hoa, Ấn Độ, Đông Nam Á. Có ba nhóm gốm chính:
- Nhóm 1 - nhóm gốm bản địa bao gồm một số loại gia dụng và chuyên biệt, nhóm này thể hiện phần nào đó truyền thống gốm Sa Huỳnh trước đó và bảo lưu dai dẳng những yếu tố kỹ thuật, chất liệu và loại hình ở những giai đọan muộn hơn.
- Nhóm 2 - nhóm gốm sản xuất tại chỗ song dưới tác động hay chịu ảnh hưởng những yếu tố văn hoá ngoại sinh từ Trung Hoa, Ấn Độ…. Nhóm này xuất hiện ở giai đoạn muộn từ đầu thế kỷ II-III AD và phổ biến trong những thế kỷ IV-X AD. Đây là nhóm gốm mang tính nghi lễ, vật liệu xây dựng và trang trí kiến trúc…Hũ gốm Chăm tinh mịn, Trà Kiệu khai quật 1990
- Nhóm 3 - nhóm gốm có men, không men, đồ bán sứ, sành nhập ngoại từ miền Bắc Việt Nam, Trung Hoa, Ấn Độ, Trung Cận Đông…. Nhóm này thường gặp trong các di tích giai đoạn từ sớm đến muộn.
Đồ sành và gốm Chăm có men: Tại một số địa điểm giai đoạn muộn bên cạnh những đồ sành, bán sứ và gốm có men ngoại nhập có một số sành và gốm tráng men đựơc các nhà nghiên cứu thông báo là gốm Champa.
Các trung tâm sản xuất gốm ở Bình Định: Tại địa bàn huyện An Nhơn (Bình Định) các nhà khảo cổ học đã phát hiện và khai quật nhiều địa điểm sản xuất gốm như Gò Sành, Gò Hời, Gò Cây Me…. Các nhà nghiên cứu cho rằng, chủ nhân của những lò gốm này là người Champa và sản xuất đồ gốm ở đây diễn ra trong thời gian từ thế kỷ XIII-XV. Sản phẩm gốm Gò Sành được tìm thấy khá nhiều cả trên thị trường nội địa và thị trường quốc tế. Tuy vậy, cũng có những ý kiến cho rằng chủ nhân của những lò gốm này là của người Hoa, người Việt.
Có thể thấy cư dân Champa có hai truyền thống làm gốm cơ bản và trong cả hai truyền thống sản xuất đồ gốm gia dụng cũng như sản xuất gốm nghi lễ, gốm xây dựng và kiến trúc họ đều sử dụng kết hợp kỹ thuật nặn tay, dải cuộn và bàn xoay. Họ nung sản phẩm ở ngoài trời là chính nhưng chắc chắn đã có lò nung, chủ yếu để nung gốm nghi lễ.
Nghề chế tác kim hoàn cũng rất phát triển. Ngoài việc chế tác và sử dụng đồ trang sức bằng mã não và thuỷ tinh với nhiều loại hình và kỹ thuật kế thừa từ giai đoạn văn hoá Sa Huỳnh, cư dân Champa đặc biệt ưa thích những đồ trang sức, trang trí bằng vàng như hạt chuỗi, nhẫn, khuyên tai, trang sức chạm đá quý, gắn hạt thuỷ tinh…. Trong nhiều sưu tập tư nhân còn lưu giữ rất nhiều đồ trang sức bằng vàng, bạc tinh xảo, những khuyên tai hình động vật, vòng đeo tay, nhẫn… chạm khắc tinh xảo, những bình bằng đồng, bằng bạc có khắc chữ… đủ nói lên trình độ phát triển các nghề thủ công mỹ nghệ của cư dân Champa.
Người Champa sản xuất và sử dụng những bộ đồ thờ bằng vàng, bạc, đồng thau với kích thước lớn, trang trí tinh xảo và nhiều kiểu dáng. Thư tịch cổ Trung Hoa còn ghi việc khi những đền-tháp Champa bị phá, các bức tượng bị nấu thành thoi - được 100 ngàn cân vàng nguyên chất. Hiện nay nhiều hiện vật bằng vàng, bạc và đồng của Champa phần lớn được lưu giữ trong kho của các dòng họ vua chúa Champa, trong các sưu tập tư nhân trong và ngoài nước.
Sự giàu có, phong phú cho thấy cư dân Champa đã chọn được một cơ cấu kinh tế thích hợp. Người Chăm cổ có cái nhìn hướng biển, dù nền văn hoá của họ là nền văn hoá đa sắc thái, song vượt trội là sắc thái biển. Cư dân Champa thường xuyên có mặt ngoài khơi, ngoài đảo xa, đánh cá, buôn bán…. Họ thường xuyên trao đổi kinh tế-văn hoá với thế giới hải đảo Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương. Bờ biển miền Trung đã nổi tiếng trong lịch sử cổ trung đại với những hệ cảng thị, với nhiều cảng (sông - biển) và nhiều thị (sông - biển), từng được ghi vào hải đồ của những thương nhân Ấn Độ, Trung Hoa, Ả Rập…. Những khai quật khảo cổ học gần đây ở Cù Lao Chàm (Quảng Nam), Nam Thổ Sơn (Đà Nẵng), Cù Lao Ré (Quảng Ngãi)… cũng cung cấp nhiều tài liệu vật thật về hoạt động thương mại biển của vương quốc Champa trong lịch sử.

Sau những giai đoạn phát triển rực rỡ, từ cuối thế kỷ XV do nhiều nguyên nhân khác nhau như chiến tranh với Trung Quốc (quân Nguyên) với Cămpuchia và sức ép Nam tiến của người Việt, văn hoá Champa dần suy giảm và đến thế kỷ XVIII, chỉ còn một số di tích được xây dựng. Cư dân Champa trở thành một tộc người trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Nền văn hoá Champa trở thành một nền văn hoá của một tộc người trong nền văn hoá đa tộc người ở Việt Nam. 



 

 
Bản đồ phân bố các cụm di tích Chămpa
8. Một số di tích tiêu biểu
Di tích Trà Kiệu ( xã Duy Sơn, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam) nằm trên hữu ngạn sông Thu Bồn, ở cửa một thung lũng rộng có hình tam giác cân, với đỉnh là núi Chúa ở phía Tây và đáy hướng ra biển Đông.
Cuộc khai quật đầu tiên với quy mô lớn được nhà khảo cổ học người Pháp Jean-Yves Claeys tiến hành trong hai năm 1927 và 1928. Cùng với những dấu vết kiến trúc của một tòa thành cổ là hàng trăm tác phẩm điêu khắc quý giá đã được phát hiện. Những tác phẩm điêu khắc với những đặc điểm riêng đã hình thành nên một phong cách nghệ thuật nổi tiếng - phong cách Trà Kiệu (niên đại từ giữa đến cuối thế kỷ 10).Kết quả khai quật đã giúp các nhà nghiên cứu phác họa được quy mô của tòa thành cổ Trà Kiệu và chứng minh thành Trà Kiệu chính là kinh thành Simhapura của vương triều Chăm Pa từng được nhắc đến trong các bi ký Chăm và cũng chính là kinh đô của Lâm Ấp được mô tả trong Thủy Kinh Chú.Thung lũng Trà Kiệu
Từ năm 1985 đến nay các nhà khoa học Việt Nam, Anh, Nhật...đã tiến hành các đợt khảo sát, khai quật ở nhiều điểm khác nhau của Trà Kiệu . Kết quả khai quật cho thấy khu vực Trà Kiệu đã có những nhóm cư dân sinh sống từ rất sớm, cách đây khoảng hai nghìn năm. Văn hóa Trà Kiệu là một quá trình diễn tiến liên tục, kế thừa và phát huy những giá trị văn hóa từ giai đoạn trước sang giai đoạn sau và phản ánh chân xác lịch sử Duy Xuyên, Quảng Nam nói riêng và miền Trung Việt Nam nói chung trong nhiều thế kỷ, từ cuối Sa Huỳnh đến giai đoạn Nhật Nam rồi Lâm Ấp- Chăm Pa.

Chung quanh Trà Kiệu trên địa bàn Duy Xuyên, còn có rất nhiều di tích khác nhau của nền văn hóa Chăm Pa, từ những di tích thuộc giai đoạn cư trú sớm như: Gò Cấm, Gò Dũ Dẻ... đến những di tích thành lũy, đền tháp như Chùa Vua, Triền Tranh, Chiêm Sơn Đông, Chiêm Sơn Tây... Kết quả khảo sát, khai quật khảo cổ học không những đã giúp hình dung đặc trưng kiến trúc điêu khắc cung điện, đền đài, thành quách của một kinh đô Chăm Pa cổ , mà còn từng bước giúp chúng ta hiểu rõ hơn về đời sống thường nhật của cư dân cổ vùng Trà Kiệu.
Trà Kiệu là phức hợp di tích cư trú- thành lũy-trung tâm hành chính-chính trị và tôn giáo tồn tại gần hai thiên niên kỷ. Trà Kiệu có mối quan hệ, tiếp xúc và giao lưu văn hóa, kinh tế ... với những nền văn minh trong khu vực và xa hơn trên thế giới thông qua cửa ngõ Hội An với điểm tiền tiêu trấn sơn Chiêm Bất Lao (Cù Lao Chàm) và cảng thị Đại Chiêm Hải Khẩu (Cửa Đại).

Khu đền tháp Mỹ Sơn (xã Duy Phú, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam) cách kinh đô Simhapura - Trà Kiệu xưa khoảng 28 km về phía Tây, là quần thể bao gồm nhiều công trình đền tháp với nghệ thuật điêu khắc độc đáo , nằm trong một thung lũng đườn kính ước chừng 2km, giữa núi rừng rậm rạp và chỉ có một lối vào duy nhất là theo con đường độc đạo nằm giữa hai quả đồi, chắn ngang trước mặt con đường vào thung lũng như một chiến hào sâu và rộng là một con suối, chảy quanh co theo sườn núi phía bắc, rồi chảy thẳng vào phía trung tâm, sau đó nó chạy vòng quanh tạo thành một thủy lộ lưu thông cho toàn bộ khu vực này trong mùa mưa.

Năm 1898, một người Pháp tên là Camille Paris đã phát hiện ra khu đền tháp Mỹ Sơn. Sau đó vào những năm đầu thế kỷ XX, hai nhà khoa học của Viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp là Louis Finot và Lunet de Lajonquière và nhà kiến trúc sư kiêm khảo cổ học Henri Parmentier đã đến nghiên cứu các bia ký và nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc Chămpa ở Mỹ Sơn. Họ đã vén lên bức màn bí mật về Mỹ Sơn và cho thấy đây là khu di tích tôn giáo kỳ vĩ nhất, đặc trưng nhất của người Chăm Pa, được xây dựng liên tục trong suốt hơn 1000 năm từ thế kỷ IV bởi vị vua Bhadravarman (trị vì từ năm 349 đến năm 361) và kết thúc vào cuối thế kỷ thứ XIII, đầu thế kỷ XIV dưới triều vua Jaya Simhavarman III (Chế Mân).
Mỹ sơn là một quần thể với hơn 70 ngôi đền tháp mang nhiều phong cách kiến trúc, điêu khắc tiêu biểu cho từng giai đoạn lịch sử của vương triều Champa. Hầu hết các công trình kiến trúc, tác phẩm điêu khắc tại Mỹ Sơn đều chịu ảnh hưởng của Ấn Độ giáo, nhưng trong quá trình phát triển thì tính bản địa ngày càng đậm nét, tạo nên một vẻ đẹp độc đáo với sức hấp dẫn kỳ lạ. Phần lớn các đền tháp quay về hướng đông - phương mặt trời mọc, chỗ trú ngụ của thần linh; ngoại trừ một vài tháp quay về hướng tây hoặc cả hai hướng đông - tây, thể hiện tư tưởng hướng về thế giới bên kia của các vị vua sau khi chết được phong thần và để tỏ lòng hoài niệm tổ tiên.
Do thiên tai và sự tàn phá của bom đạn chiến tranh, đến nay Mỹ Sơn chỉ giữ lại được khoảng 20 tháp.
Tồn tại gần như suốt chiều dài lịch sử của vương triều Champa, khu đền tháp Mỹ Sơn ngày càng trở nên bất tử và có một vị trí rất quan trọng trong nền văn hóa nghệ thuật của vùng Đông Nam Á, trong đó nhiều kiệt tác có thể so sánh với những tác phẩm đẹp nhất của nghệ thuật thế giới.
Ngày 4 tháng 12 năm 1999 khu di tích Mỹ Sơn đã được UNESCO ghi tên vào danh mục các di sản văn hóa thế giới.

Close