ĐÀO TẠO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ BẬC ĐẠI HỌC LÀM VIỆC TRONG CÁC CƠ QUAN QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA

Thứ ba - 13/01/2015 04:22


ĐÀO TẠO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ BẬC ĐẠI HỌC LÀM VIỆC TRONG CÁC CƠ QUAN QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA

ĐÀO TẠO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ BẬC ĐẠI HỌC LÀM VIỆC TRONG CÁC CƠ QUAN QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA

Khoa Bảo tàng trường Đại học Văn hóa Hà Nội (nay là Khoa Di sản văn hóa) là cơ sở đào tạo cán bộ bảo tàng bậc đại học cho cả nước từ năm 1977 đến nay.
Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ đào tạo Khoa đã luôn đổi mới chương trình đào tạo nhằm đáp ứng mục tiêu, nhiệm vụ về cung cấp nguồn nhân lực có chất lượng trong các thời kỳ lịch sử khác nhau. Quá trình đổi mới khung  chương trình đào tạo luôn được thực hiện đồng bộ, khoa học, cân đối giữa các môn học trong các khối kiến thức trong đó bao gồm: Khối kiến thức đại cương; khối kiến thức giáo dục chuyên nghiệp trong đó có kiến thức cơ sở ngành và kiến thức ngành. Trong phần kiến thức ngành có các môn học thuộc nhóm kiến thức bắt buộc. Trong nhóm kiến thức bắt buộc có các môn học thuộc về khoa học bảo tàng, bảo tồn di tích lịch sử văn hóa, cổ vật và Hán nôm. Ngoài các môn học bắt buộc còn có các môn học thuộc nhóm kiến thức tự chọn. Nhìn chung, các môn học trong phần kiến thức ngành đã cung cấp những vấn đề thuộc về lý thuyết, thực tiễn cho sinh viên, đáp ứng nhiệm vụ đặt ra của ngành bảo tàng trong những năm gần đây.
Trong bài viết này, chúng tôi tập trung nêu và phân tích tính lý thuyết của các môn học trong nhóm kiến thức bắt buộc - đó là các môn học về khoa học bảo tồn di tích lịch sử văn hóa. Các môn học được xây dựng đều xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn bao gồm lý luận về bảo tồn di tích lịch sử văn hóa và thực tiễn tình hình di sản văn hóa vật thể ở nước ta. Theo số liệu tổng hợp của Cục Di sản văn hóa tháng 9/2013 cho biết, hiện nay ở nước ta đã có 3.177 di tích được xếp hạng quốc gia trong đó: di tích khảo cổ 81; di tích lịch sử 1.463; di tích kiến trúc nghệ thuật 1.504; di tích thắng cảnh 129. Trong đó có 07 di sản văn hóa thiên nhiên thế giới và 34 di tích được xếp hạng cấp quốc gia đặc biệt. Ngoài ra còn có một số lượng lớn các di tích được xếp hạng cấp tỉnh, thành phố. Chúng tôi chưa có điều kiện có tập hợp được số lượng chính xác các di tích được xếp hạng cấp tỉnh/thành phố, nhưng số lượng có thể lên tới vài nghìn di tích. Qua số liệu dẫn ra trên đây có thể đánh giá di tích lịch sử văn hóa là loại hình di sản văn hóa vật thể tiêu biểu về số lượng và phong phú về loại hình. Trong những năm, qua căn cứ vào chính sách văn hóa của Đảng và Nhà nước ta, những hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị các di tích phục vụ cộng đồng, phục vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Để phát huy tốt hơn sự nghiệp bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vấn đề đào tạo nguồn nhân lực làm việc trong các cơ quan quản lý di tích là vấn đề mang tính cấp thiết, vì vậy các cơ sở đào tạo trong đó có Trường Đại học Văn hóa Hà Nội luôn quan tâm đến việc nâng cao chất lượng đào tạo. Một trong những khâu then chốt góp phần cho chất lượng đào tạo chính là đổi mới khung chương trình đao tạo. Bài viết dẫn trường hợp nhóm các môn học trong khối kiến thức ngành có liên quan đến di tích và bảo tồn di tích lịch sử văn hóa để phân tích và làm rõ hơn nhận định. Trong chương trình đại học bảo tàng trước năm 2002 có 02 môn học chính/bắt buộc. Di tích lịch sử văn hóa Việt Nam 60 tiết và môn học Bảo tồn di tích lịch sử văn hóa 60 tiết, tổng cộng là 120 tiết. Môn học Bảo tồn di tích lịch sử văn hóa bao gồm các nội dung: cơ sở lý thuyết về bảo tồn; kiểm kê xếp hạng di tích; bảo quản, tu bổ, tôn tạo di tích; khai thác phát huy giá trị di tích.
Đến năm 2002, Nhà trường đã tổ chức cho Khoa Bảo tàng làm lại khung chương trình đào tạo có chỉnh sửa, bổ sung và cập nhật các vấn đề mới. Lúc đó trong phần kiến thức ngành từ 02 môn học đã tách ra thành 05 môn học trong đó có:
- Di tích lịch sử văn hóa Việt Nam: 45 tiết
- Đại cương bảo tồn di tích: 30 tiết
- Kiểm kê xếp hạng di tích: 45 tiết
- Bảo quản, tu bổ, tôn tạo di tích:         45 tiết
- Khai thác phát huy giá trị di tích: 30 tiết
Tổng cộng là 195 tiết. Nhìn vào cấu trúc các môn học và thời lượng dành cho các môn học đã có đổi mới hơn trước. Môn học Di tích lịch sử văn hóa, từ 60 tiết đã giảm đi còn 45 tiết (giảm đi một học phần), trong đó toàn bộ 4 môn Đại cương bảo tồn di tích lịch sử văn hóa; Kiểm kê xếp hạng di tích, Bảo quản, tu bổ, tôn tạo di tích; Khai thác phát huy giá trị di tích từ 60 tiết trước năm 2002 đã tăng lên đến 150 tiết. Nội dung các môn học đã được chỉnh sửa bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tiễn đặt ra hiện nay. Bổ sung và cập nhật những thông tin mới phù hợp với tình hình chung của quốc gia và quốc tế.
Năm 2013, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội áp dụng phương thức đào tạo theo tín chỉ, được quy định trong quy chế 43/2007 Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày 15/07/2007 của Bộ Giáo dục và Đào tạo mới cụ thể cho các môn học như:
 - Di tích lịch sử văn hóa Việt Nam: 3 tín chỉ - 45 tiết
- Đại cương bảo tồn di tích: 2 tín chỉ - 30 tiết
- Kiểm kê, xếp hạng di tích: 2 tín chỉ - 30 tiết
- Bảo quản, tu bổ, tôn tạo di tích:         3 tín chỉ - 45 tiết
- Khai thác, phát huy giá trị di tích: 2 tín chỉ - 30 tiết
Tổng cộng là 180 tiết. Như vậy, so với các môn học trong khung chương trình đã làm vào năm 2002 có 2/5 môn là môn Đại cương bảo tồn di tích lịch sử văn hóaKhai thác phát huy giá trị di tích đã có thay đổi, nâng lên thành 2 tín chỉ, trong đó môn Kiểm kê, xếp hạng di tích lại giảm còn 2 tín chỉ. Trong quá trình thực hiện chương trình cần chú ý đến những nguyên tắc cơ bản: về trình tự, các môn học được thực hiện theo thứ tự trước, sau; môn Di tích lịch sử văn hóa Việt Nam học trước rồi lần lượt đến các môn học Đại cương bảo tồn di tích lịch sử văn hóa Việt Nam, rồi đến các môn học tiếp theo tứ tự như đã nêu trong bảng trên đây. Về nội dung cơ bản của các môn học được xác định rõ như sau: môn học Di tích lịch sử văn hóa Việt Nam sẽ nghiên cứu một số khái niệm về di tích lịch sử văn hóa, tiêu chí cơ bản để trở thành di tích lịch sử văn hóa theo quy định trong Luật di sản văn hóa, đặc trưng di tích lịch sử văn hóa Việt Nam (05 đặc trưng), phân loại di tích, trong đó có nêu: cơ sở phân loại, loại hình và các loại di tích thuộc loại hình. Bài giảng tập trung vào 4 loại hình cơ bản: Loại hình di tích khảo cổ, loại hình di tích lịch sử, loại hình di tích kiến trúc nghệ thuật, loại hình di tích danh lam thắng cảnh. Ngoài phần lý thuyết giảng trên lớp, sinh viên còn có thời gian đi tham quan thực tế tại các loại hình di tích khác nhau để củng cố kiến thức đã học trên lớp. Môn học Đại cương bảo tồn di tích lịch sử văn hóa bao gồm những nội dung: nghiên cứu khái niệm, quan điểm bảo tồn, đặc trưng, chức năng, đối tượng, phương pháp nghiên cứu của khoa học bảo tồn. Hoạt động bảo tồn di tích trong lịch sử và khái quát về các hoạt động bảo tồn di tích.
Môn học Kiểm kê, xếp hạng bao gồm 2 phần chính là kiểm kê và xếp hạng di tích. Nội dung trong phần kiểm kê gồm: khái niệm, mục đích, yêu cầu, tầm quan trọng của kiểm kê di tích, nghiên cứu phát hiện, khảo sát phân tích và thống kê di tích, lập hồ sơ khoa học di tích, quản lý và phổ biến hồ sơ. Trong phần xếp hạng di tích gồm: Khái niệm, tiêu chuẩn xếp hạng; hồ sơ xếp hạng di tích; thể thức tiến hành xếp hạng di tích; trao bằng xếp hạng cho di tích.
Môn học Bảo quản tu bổ, tôn tạo di tích bao gồm 2 phần chính: Bảo quản, tu bổ di tích và xếp hạng di tích, trong phần bảo quản tu bổ di tích có các nội dung sau: nghiên cứu một số khái niệm; những căn cứ và nguyên tắc; các văn bản quốc gia và quốc tế về bảo quản, tu bổ di tích; quy hoạch bảo quản tu bổ chống xuống cấp di tích. Lập dự án bảo quản, tu bổ di tích. Phần tôn tạo di tích bao gồm các nội dung: nghiên cứu khái niệm tôn tạo, quy mô tôn tạo, phân tích và nêu rõ cách tiến hành tôn tạo. Các hạng mục công trình trong quy mô tôn tạo và quá trình thiết kế tôn tạo di tích.
Môn học Khai thác phát huy giá trị di tích bao gồm những nội dung cơ bản sau đây: Những khái niệm cơ bản, mục tiêu, nhiệm vụ, đặc điểm, nguyên tắc, quan điểm khai thác giá trị của di tích. Quy hoạch khai thác phát huy giá trị di tích; Các hình thức, phát huy giá trị di tích; Phương pháp đánh giá chất lượng phục vụ du khách đến tham quan tại các khu/điểm có di tích.
Về phương thức thực hiện chương trình và các môn học cụ thể trong chương trình đào tạo. Ngoài nhiệm vụ dự giờ giảng trên lớp sinh viên sẽ có giờ đi học thực tế tại di tích và các cơ quan quản lý di tích ở nhiều địa bàn khác nhau. Sinh viên sẽ phải thực hành các bài tập cụ thể theo nhóm; Bài tập khảo sát lập hồ sơ khoa học xếp hạng di tích; Lập dự án bảo quản, tu bổ, tôn tạo di tích. Bài tập viết thuyết minh và thực hành thuyết minh tại di tích.
Ngoài 05 môn học trong nhóm kiến thức bắt buộc, sinh viên còn có các chuyên đề tự chọn cụ thể như: Quản lý bảo tàng và di tích; Lễ hội Việt Nam; Xã hội hóa hoạt động bảo tàng và di tích; Kiến trúc cổ; Văn bản pháp quy Việt Nam về di sản văn hóa… Trong khung chương trình đào tạo của ngành còn có các môn học trong khối kiến thức cơ sở ngành như: Khảo cổ học, Dân tộc học, Lịch sử mỹ thuật Việt Nam, Lịch sử Việt Nam, Tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam… là những môn học rất cần thiết, bổ trợ tích cực cho quá trình nghiên cứu về giá trị di tích lịch sử văn hóa là đối tượng hoạt động của khoa học bảo tồn di tích.
Trên đây là một nhóm các môn học tập trung chủ yếu vào đối tượng  là di tích lịch sử văn hóa. Các môn học này đã cung cấp cho sinh viên những kiến thức cơ bản để sau khi ra trường có thể đáp ứng được yêu cầu của chuyên ngành, thực hành làm việc tại các cơ quan quản lý di tích.
Tuy nhiên, quá trình thực hiện đào tạo có thể đạt được chất lượng cao hơn nếu cơ sở đào tạo tăng cường đầu tư thêm các phương tiện và cơ sở thực hành/xưởng thực nghiệm để sinh viên có thể đến xưởng để thực hành các kỹ năng, kỹ thuật bảo quản, tu bổ di tích. Cần tăng cường khả năng thực tế đối với các môn học trong khối kiến thức ngành, góp phần nâng cao tính thực tiễn, cho hệ thống các môn học. Cũng cần phải được cập nhật các thông tin mới để bổ sung cho bài giảng được tốt hơn.
Trên đây là những vấn đề cụ thể đặt ra trong quá trình đào tạo cán bộ bảo tàng bậc Đại học. Quá trình thực hiện đào tạo theo tín chỉ là một quá trình sẽ tiếp tục hoàn thiện khung chương trình đảm bảo chất lượng cho sinh viên sau khi ra trường sẽ đáp ứng được các yêu cầu đặt ra của cơ quan quản lý di tích.
 

Tác giả bài viết: PGS.TS Trịnh Thị Minh Đức (Nguyên Trưởng khoa Sau Đại học - ĐHVH HN)

Close