ĐỔI MỚI CÁCH TIẾP CẬN NGHIÊN CỨU LÀNG XÃ VIỆT NAM

Thứ bảy - 18/06/2016 12:55


1. Yêu cầu nghiên cứu làng xã Việt Nam
Đồng thời với quá trình tan rã của chế độ Công xã nguyên thủy, hình thành xã hội có giai cấp và nhà nước đầu tiên trên đất Việt Nam là quá trình ra đời của làng Việt Nam. Trong tiến trình lịch sử đất nước kể từ buổi đầu thời đại dựng nưước cho đến ngày nay, làng lúc nào cũng đóng vai trò hết sức quan trọng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Làng Việt Nam từ xưưa cho đến nay bao giờ cũng giữ vị trí đặc biệt quan trọng cho các vưương triều, các nhà nưước, các thể chế chính trị họach định chiến lưược cai quản, xây dựng và phát triển đất nưước. Thành công hay không thành công của các vương triều, nhà nước hay thể chế chính trị nhiều khi tùy thuộc vào sự hiểu biết và các chính sách đối với làng xã dưới quyền của mình. Ông Vũ Đình Hòe, Bộ trưưởng Quốc gia giáo dục Chính phủ Nhân dân lâm thời của nưước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cho biết: “Muốn tìm hiểu lịch sử hình thành dân tộc Việt Nam thì phải tìm hiểu cộng đồng làng xã, và muốn xây dựng lại đất nưưước Việt Nam thì cũng phải bắt đầu từ việc xây dựng lại cộng đồng làng xã. Vì không có làng xã Việt Nam thì không có quốc gia Việt Nam[1].
Làng xã Việt Nam vì thế là một đề tài vô cùng phong phú và rộng lớn, thu hút sự quan tâm nghiên cứu của rất nhiều các nhà khoa học thuộc các lĩnh vực chuyên môn khác nhau ở cả trong nưước và trên thế giới suốt hàng thế kỷ nay và đã có những thành tựu to lớn với khá nhiều công trình tiêu biểu. Tuy vậy cho đến nay, nhận thức của chúng ta về làng xã Việt Nam cũng mới chỉ là bưước đầu, còn đơn sơ và chưưa đáp ứng được đòi hỏi nhận thức rất cao của công cuộc công nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ Bẩy của Ban Chấp hành Trung ưương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa X họp ngày 5 tháng 8 năm 2008 nhận định: “Nhận thức về vị trí, vai trò của nông nghiệp, nông dân, nông thôn còn bất cập so với thực tiễn; chưưa hình thành một cách có hệ thống các quan điểm lý luận về phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn; cơ chế chính sách phát triển các lĩnh vực này thiếu đồng bộ, thiếu tính đột phá; một số chủ trưương chính sách không hợp lý, thiếu tính khả thi nhưưng chậm điều chỉnh bổ sung kịp thời…[2]. Nhưư thế tuy trình độ nhận thức về làng xã Việt Nam hay nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam có đưược nâng cao nhiều so với trưước, nhưưng vẫn chưưa đáp ứng đưược yêu cầu ngày càng cao của cuộc sống thực tiễn, đòi hỏi các nhà nghiên cứu phải tìm cách nâng tầm các công trình nghiên cứu của mình, trong đó điều có ý nghĩa đặc biệt quan trọng là phải đổi mới các cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu lịch sử làng xã Việt Nam.
Nhìn một cách đại thể, các công trình nghiên cứu về làng xã Việt Nam của các tác giả trong nước vẫn chủ yếu chỉ là là nghiên cứu cá nhân theo các chuyên ngành mà hầu như chưa có sự gắn kết với nhau. Phương pháp nghiên cứu còn nặng theo các thao tác truyền thống, thủ công, thiên về cảm quan, kinh nghiệm và ít gắn với nhu cầu cấp bách của đời sống làng xã. Nghiên cứu của các tác giả trong nưước và ngoài nước tuy trong khoảng một, hai thập kỷ gần đây có xích lại gần nhau hơn, nhưưng trên căn bản vẫn còn độc lập với nhau, chưưa có sự phối hợp, gắn kết, khai thác sử dụng và nâng tầm các thành tựu nghiên cứu của nhau. Đấy chính là những hạn chế rất lớn của không chỉ ở các công trình nghiên cứu trong nước, mà cả các công trình nghiên cứu của các chuyên gia quốc tế về làng xã Việt Nam mà chúng ta không thể không tìm cách khắc phục.
Muốn khắc phục đưược tình trạng này, theo chúng tôi, giới nghiên cứu về làng xã Việt Nam không thể không quan tâm xử lý một cách hiệu quả các mối quan hệ:
- Thứ nhất, giữa nghiên cứu tổng thể và nghiên cứu cụ thể.
- Thứ hai, giữa nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu gắn với nhu cầu của cuộc sống thực tiễn. Các nhà nghiên cứu không thể không tham gia xử lý mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại trong bài toán phát triển bền vững nông thôn, đặc biệt cần phải góp phần thực hiện thắng lợi chủ trưương chiến lược của Đảng và Nhà nưước Việt Nam “cả nưước chung sức xây dựng nông thôn mới” cho thập kỷ thứ hai của thế kỷ XXI, tính từ năm 2011 cho đến năm 2020.
- Thứ ba, cần phải sử dụng đồng thời và hiệu quả các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành với nghiên cứu đa ngành và liên ngành, các phương pháp nghiên cứu truyền thống với nghiên cứu hiện đại.
- Thứ tưư, cần và rất cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu của các chuyên gia trong nước và các chuyên gia quốc tế, nghiên cứu so sánh giữa các vùng, các loại hình làng xã trong nước, trong khu vực và trên thế giới.
Điều chúng tôi muốn nhấn mạnh ở đây là dù xử lý các mối quan hệ hay vận dụng chủ công phương pháp nghiên cứu nào thì nhà nghiên cứu vẫn phải tuân thủ nguyên tắc tuyệt đối tôn trọng các nguồn tưư liệu nguyên gốc, mô tả và nhận xét đời sống làng xã nhưư nó đã từng diễn ra trong lịch sử. Mọi cái nhìn chủ quan, thiên kiến, dù có đưược che đậy hay giải thích bằng những lý do gì, thì trong thực tế cũng sẽ dẫn dắt nhà nghiên cứu ra ngoài sự thật lịch sử, xa rời khoa học, học thuật và cuối cùng là hiểu sai và thậm chí xuyên tạc chân lý lịch sử.
2. Các cách tiếp cận
Cho đến nay trong giới nghiên cứu vẫn còn các quan niệm trái ngưược nhau rằng làng Việt Nam đóng hay mở. Có ngưười cho rằng làng Việt Nam (mà tiêu biểu ở châu thổ sông Hồng) là loại hình làng đóng; còn làng Việt Nam (mà tiêu biểu ở đồng bằng sông Cửu Long) là loại hình làng mở. Những nhận định này xét về hình thức có phần hợp lý, nhưưng trong thực tế chưưa phải đã đưược rút ra từ những nghiên cứu kỹ lưưỡng và những so sánh thấu đáo các đặc điểm khác biệt giữa làng Việt Nam với công xã ấn Độ, công xã Giéc Manh hay các loại hình công xã khác trên thế giới. Điều cần phải nói rõ là phần nhiều các nhà nghiên cứu Việt Nam đều nói làng Việt không đóng kín, nhưưng trên thực tế lại thiên về trình bày làng Việt nhưư một thể cô lập và bất biến. Chúng ta không thể giản đơn quy toàn bộ làng xã Việt Nam vào trong một cái mẫu chung là làng Việt cổ truyền, mà cần phải nghiên cứu và trình bày nó gắn với những khu vực nhất định, trong những giai đọan và hoàn cảnh lịch sử cụ thể.
Quan hệ làng nưước cũng cần phải đưược nhìn nhận và đánh giá một cách khách quan hơn, không thể nói một cách giản đơn rằng nưước là tổng các làng. Nếu làng là đóng kín, là độc lập và cô lập với xung quanh thì chắc chắn không thể có mối quan hệ thưường xuyên và chặt chẽ giữa làng với nưước, giữa nưước với làng nhưư đã từng diễn ra trong lịch sử. Tuy nhiên trong thực tế cũng có lúc “phép vua thua lệ làng”, cũng có khi mệnh lệnh chiếu chỉ của nhà vua không thể nào thâm nhập đưược vào cái thế giới huyền bí ở phía sau lũy tre xanh. Vậy thì mối quan hệ làng - nưước cũng cần phải đưược đặt vào trong những điều kiện và hoàn cảnh cụ thể để nghiên cứu đánh giá.
Điều có thể khẳng định là làng Việt Nam không phải là cấu trúc đóng kín, không có mối liên hệ với bên ngoài, mà trong thực tế nó tồn tại và phát triển trong các mối quan hệ liên làng và siêu làng, hay nói khác đi các mối liên hệ liên làng và siêu làng luôn luôn tác động làm cho làng Việt luôn luôn có những thay đổi và biến chuyển[3]. Không có làng Việt bất biến mà chỉ có làng Việt biến đổi nhiều hay ít cho phù hợp với những điều kiện và hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Vì thế, không đưược coi làng Việt nhưư một cơ thể chết, cô lập và bất biến mà phải nghiên cứu làng Việt nhưư một cấu trúc động luôn luôn chịu sự tác động của các mối quan hệ bên trong, bên ngoài và luôn luôn biến đổi trong tiến trình lịch sử.
Đề tài làng xã cổ truyền hầu nhưư không đưược bất cứ một cuốn sử chính thức của một vưương triều nào đề cập đến. Tuy nhiên nếu khảo sát thật kỹ các bộ sử cũ nhưư Việt sử lược, Đại Việt sử ký toàn thưư, Khâm định Việt sử thông giám cưương mục, Đại Nam thực lục… cũng có thể tìm đưược một số thông tin liên quan đến làng xã dưưới góc độ cơ cấu tổ chức, luật pháp, chính trị, quân sự, văn hóa và xã hội. Bên cạnh các bộ chính sử, nguồn tưư liệu hết sức quan trọng là các ghi chép hay các công trình khảo cứu của các học giả lớn trưước đây nhưư Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú, Phạm Đình Hổ, Ngô Cao Lãng… Điều đáng lưưu ý là ở nưước ta có một hệ thống sách địa lý - lịch sử xuất hiện từ rất sớm nhưư các bộ quốc chí (của Nguyễn Trãi, Phan Huy Chú, Lê Quang Định, Nguyễn Văn Siêu, Quốc sử quán triều Nguyễn…), các bộ khu vực và tỉnh chí (của Lê Quý Đôn, Trịnh Hoài Đức, Khiếu Năng Tĩnh, Ngô Giáp Đậu, Phạm Văn Thụ, Nhữ Bá Sĩ, Nguyễn Bá Trác…), các bộ huyện chí (củaNguyễn Thu, Hoàng Đăng Quýnh…), đặc biệt là các bộ xã chí (của Đặng Xuân Viện, Lê Nhưng…), đã ghi chép khá cụ thể về địa lý, lịch sử, dân cưư, văn hóa và lối sống của mỗi làng xã.
Những ghi chép của thưương nhân và giáo sĩ phưương Tây từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII; các tưư liệu về làng xã, tình hình kinh tế, chính trị xã hội ở các làng xã của các viên quan đô hộ và học giả ngưười Pháp thời kỳ Việt Nam dưưới ách thống trị của thực dân Pháp đưược lưưu trữ ở các kho tưư liệu Việt Nam và Pháp cũng là nguồn tưư liệu quan trọng để nghiên cứu làng xã Việt Nam cổ truyền và cận đại.
Nguồn tưư liệu về các chủ trưương chính sách của Đảng và Nhà nưước Việt Nam về nông thôn, nông nghiệp, nông dân, về phong trào hợp tác hóa nông nghiệp… đưược lưưu trữ tại các kho lưưu trữ Trung ương và các địa phưương là cơ sở tưư liệu quan trọng để nghiên cứu làng xã Việt Nam hiện đại.
Nghiên cứu làng xã Việt Nam càng ngưược về thời kỳ xa xưưa thì nguồn ưtư liệu thưư tịch đưương đại càng nghèo nàn và đơn điệu. Thời kỳ cận đại và hiện đại càng ngày càng có nhiều sổ sách, công văn, giấy tờ, biên bản, văn bằng, chỉ thị, nghị quyết, hóa đơn, chứng từ, số liệu thống kê... đưược tập hợp được tập hợp và lưưu trữ, nhưưng ngay đến cả nguồn tưư liệu này cũng không thể phản ánh hết đưược cuộc sống thiên hình vạn trạng diễn ra ở làng quê. Vì thế, bên cạnh việc tập trung khai thác triệt để các nguồn tưư liệu thưư tịch đưương đại làm cái nhân, cái lõi cho công trình nghiên cứu về làng xã của mình, nhà nghiên cứu không thể không tổ chức các cuộc điều tra khảo sát thực địa để có thể bổ sung cho sự khuyết thiếu của nguồn tưư liệu thưư tịch đưương đại.
Nguồn tưư liệu điều tra thực địa bao gồm:
- Tưư liệu thư tịch thực địa (thần tích, ngọc phả, sắc phong, văn bia, đại tự, câu đối, địa bạ, hưương ước, gia phả, chúc thưư, văn tế, văn bia hay những ghi chép của các gia đình, dòng họ còn lưưu giữ đưược từ xưa cho đến nay).
- Nguồn tưư liệu vật chất bao gồm các di tích, di vật đưược sản sinh ra trong cuộc sống làng quê nhưư đình, chùa, đền, miếu, văn chỉ, am quán, nhà thờ, nhà cửa, đưường sá, cầu cống, công cụ sản xuất, nghề nghiệp, chợ búa, đồ gia bảo và đồ dùng hàng ngày từ xưa cho đến nay.
- Nguồn tài liệu truyền miệng bao gồm các truyền thuyết dân gian, ca dao, hò vè, địa danh…


 
3. Một số phương pháp cụ thể
Đề tài nghiên cứu làng xã về cơ bản là một đề tài xã hội học- dân tộc học. Khi nghiên cứu nó nhưư một đề tài sử học nghĩa là biến nó thành một đề tài xã hội học lịch sử. Một đề tài xã hội học lịch sử, ngoài những tài liệu quan sát trực tiếp không thể không đặc biệt quan tâm đến những tài liệu lịch đại.
Tài liệu lịch đại chủ yếu là thưư tịch cổ của nhà nưước, tưư nhân, thưương nhân và giáo sĩ phưương Tây, tưư liệu trong các cơ quan lưưu trữ... Điều đáng nói là những tưư liệu này đã ít lại thưường không sớm hơn thế kỷ XVII. Vì thiếu tài liệu đương đại nên trong các công trình nghiên cứu làng xã Việt Nam trong lịch sử lâu nay chủ yếu vẫn sử dụng phương pháp hồi cố. Sử dụng phương pháp hồi cố là hết sức cần thiết, nhưng ngưười sử dụng vẫn phải thấy hết đưược mặt hạn chế của nó, phải tuyệt đối tránh những suy diễn quá xa mà bản thân tưư liệu không cho phép.
Tưư liệu điều tra thực địa tại các làng xã là vô cùng phong phú nhưưng lại hết sức phức tạp. Không ít tưư liệu loại này phản ánh một cách khách quan, trung thực cuộc sống làng xã, nhưưng nhìn chung chúng mang tính ưước lệ, thiếu chính xác, thậm chí có nhiều sự kiện bị giải thích sai lạc hay bị lắp ghép với nhau một cách tuỳ tiện dễ làm cho ngưười sử dụng nhầm lẫn. Ngưười sử dụng nguồn tưư liệu này buộc phải so sánh, đối chiếu với các nguồn tưư liệu khác, giám định tưư liệu một cách chặt chẽ, nghiêm túc. Hiện nay ngưười ta thưường sử dụng phưương pháp sử học truyền miệng hay phưương pháp lọc nhiễu để xử lý các nguồn thông tin này.
Nghiên cứu về làng xã hiện nay người ta thưường sử dụng phổ biến phưương pháp hệ thống - cấu trúc. Theo phưương pháp này làng đưược coi nhưư một hệ thống riêng gồm những yếu tố hợp thành. Tuỳ theo đối tượng nghiên cứu của mình mà ngưười nghiên cứu chọn lựa các yếu tố hợp thành khác nhau của hệ thống. Nếu nghiên cứu làng nhưư một hệ thống xã hội, nó bao gồm các nhóm xã hội, các đẳng cấp, các nhóm tuổi... còn nghiên cứu làng nhưư một hệ thống kinh tế thì nó bao gồm các nhóm, các ngành hoạt động sản xuất, nghề nghiệp. Bản thân các yếu tố của hệ thống làng lại có thể coi là những hệ thống con để nghiên cứu riêng biệt nhưư gia đình, dòng họ, phe giáp... Điểm chủ yếu mà ngưười nghiên cứu hhướng tới là vạch ra mối liên hệ tưương tác giữa các yếu tố bên trong của hệ thống, nêu lên cơ chế vận hành của hệ thống. Bởi vì bản thân làng xã là một hệ thống tưương đối riêng biệt nên việc sử dụng phương pháp hệ thống - cấu trúc để nghiên cứu làng xã là phưương pháp phù hợp và có hiệu quả cao.
Đồng thời với việc mổ sẻ những mối liên hệ trong làng, tức là những mối liên hệ trong hệ thống, ngưười nghiên cứu cần phải chú ý đến những mối liên hệ ngoài hệ thống, hay mối liên hệ ngoài cấu trúc. Một công trình nghiên cứu về làng xã, dù chỉ nghiên cứu một làng cũng không thể không quan tâm đến đến các mối liên hệ giữa làng đó vơí bên ngoài (gồm mối quan hệ giữa nó với các làng khác trong một cấu trúc tưương đưương) tức là liên hệ liên làng và quan hệ giữa nó với các cộng đồng hay khu vực rộng lớn hơn chứa đựng nó tức là liên hệ siêu làng[4].
Tuỳ theo yêu cầu chuyên môn mà nhà nghiên cứu có thể triển khai chương trình nghiên cứu làng xã thông qua phương pháp chuyên ngành của mình. Nhưng phương pháp được coi là có hiệu quả cao để hiểu được một cách tương đối đầy đủ và toàn diện làng xã là phương pháp nghiên cứu liên ngành (Interdisciplinary) và phương pháp khu vực học (Area Studies).
Phưương pháp nghiên cứu liên ngành là phưương pháp sử dụng đồng thời, hiệu quả và bình đẳng từ hai phưương pháp chuyên ngành trở lên để nhận thức về một sự vật hay hiện tưượng. Chẳng hạn khi tiến hành điều tra điền dã ở một làng cụ thể, nhà nghiên cứu (hay nhóm nghiên cứu) có thể sử dụng các phương pháp khác nhau nhưư Sử học, Dân tộc học, Kinh tế học, Xã hội học, Văn hóa học, Địa lý học… với điều kiện không có phân biệt phưương pháp nào là chính, phưương pháp nào là phụ (hay phưương pháp nào là chủ đạo, phưương pháp nào là bổ trợ). Tuy nhiên cũng cần phải xác định liên ngành ở đây cũng có các mức độ rộng hẹp khác nhau và trình độ nghiên cứu liên ngành tùy thuộc vào khả năng sử dụng đồng thời, tổng thể và hiệu quả nhiều phưương pháp đặc thù cho một đối tưượng nghiên cứu để đem đến một nhận thức khoa học chung. Phưương thức tổ chức hiệu quả nhất cho nghiên cứu liên ngành trong nghiên cứu làng xã Việt Nam là tổ chức nhóm nghiên cứu bao gồm các chuyên gia của nhiều ngành chuyên môn khác nhau, cùng nhau tiến hành điều tra khảo sát thực địa, nghiên cứu tổng hợp, hỗn hợp, trao đổi, thảo luận, hội thảo khoa học ngay tại làng xã khảo sát (thí dụ Chưương trình nghiên cứu Bách Cốc đã tập hợp đưược khoảng trên 200 chuyên gia Nhật Bản và Việt Nam, bao gồm các nhà Sử học, Dân tộc học, Văn hóa học, Tâm lý học, Xã hội học, Chính trị học, Kinh tế học, Khoa học nông nghiệp, Khảo cổ học, Địa lý, Địa chất, Môi trưường… kéo dài liên tục từ năm 1993 cho đến năm 2008). ở đây cũng cần phải phân biệt giữa liên ngành sơ khai và liên ngành hình thức, trong đó liên ngành sơ khai tuy trình độ liên ngành còn nhiều hạn chế nhưưng vẫn có thể đưược coi là nghiên cứu liên ngành, còn liên ngành hình thức thì lại hoàn toàn nằm ngoài phạm vi nghiên cứu liên ngành.
Phưương pháp Khu vực học lấy không gian xã hội-văn hóa, bao gồm các lĩnh vực hoạt động của con ngưười và quan hệ ưtương tác giữa con nưgười và điều kiện tự nhiên làm đối tưượng nghiên cứu. Mục đích của Khu vực học nhằm đạt tới những nhận thức tổng hợp về một không gian xã hội văn hóa, tìm ra những đặc điểm của tự nhiên và của đời sống con ngưười trong không gian xã hội - văn hóa đó. Vận dụng phưương pháp Khu vực học trong nghiên cứu làng xã Việt Nam, nhà nghiên cứu cần quan niệm làng xã là không gian xã hội – văn hóa nhỏ nhất của Khu vực học và Khu vực học nghiên cứu làng xã là phải nghiên cứu làng nhưư một hệ thống tổng thể để có thể xác định đưược các giá trị đặc trưưng của không gian xã hội - văn hóa này.
*
* *
Các phưương pháp mà chúng tôi nêu ra ở trên, nếu chỉ nhìn thuần túy về mặt hình thức thì có vẻ rắc rối, phức tạp, nhưưng trong thực tế lại tưương hợp và giữa chúng luôn có sự thống nhất với nhau. Nét chung nhất của phưương pháp nghiên cứu Liên ngành và Khu vực học là đều coi làng xã nhưư một không gian xã hội - văn hóa có tính hệ thống và tổng thể, chịu sự tác động thưường xuyên và liên tục của các yếu tố bên trong và bên ngoài, nên luôn luôn vận động và biến đổi. Vì thế khi nghiên cứu làng xã dù dưới góc độ Sử học (nghĩa là đã đưược quy về trạng thái tĩnh) thì vẫn không thể không đồng thời sử dụng các phưương pháp nghiên cứu chuyên ngành trong mối quan hệ khách quan, bình đẳng với nhau để có thể có đưược những nhận xét tổng quan đúng đắn và phù hợp, tìm ra được những nét cơ bản và đặc trưng của toàn bộ không gian xã hội - văn hóa đó. Phưương pháp Khu vực học với Điều tra khảo sát thực địa; phương pháp Hệ thống - cấu trúc với phương pháp Khu vực học; các phương pháp Xã hội học lịch sử, Địa lý học lịch sử, Lịch sử văn hóa, Lịch sử kinh tế với Nghiên cứu liên ngành… đều đòi hỏi phải tập trung khai thác triệt để tất cả các nguồn thông tin, tư liệu, cần phải thực sự chuẩn xác trong nhận xét, đánh giá, vì thế mà sự sai khác nhau giữa chúng chắc chắn sẽ không lớn. Tất cả các cách thức tiếp cận và phưương pháp nghiên cứu đưược trình bày ở trên đều nhằm hưướng đến sự thực đầy đủ và khách quan của đời sống làng xã Việt Nam trong lịch sử, nên nếu nhưư chưưa đạt đến sự thống nhất thì cách khắc phục là trở lại ngọn nguồn các nguồn thông tin, tư liệu; kiểm tra, kiểm soát thật nghiêm ngặt tất cả các thao tác kỹ thuật, trao đổi thảo luận một cách thực sự khách quan, trung thực trên tinh thần học thuật giữa các chuyên gia thì vẫn có thể tìm ra đưược tiếng nói chung. Nếu thực sự đổi mới cách tiếp cận và phưương pháp nghiên cứu, chắc chắn chúng ta sẽ tạo lập đưược một bước tiến căn bản trong nghiên cứu về làng xã Việt Nam nói chung và lịch sử làng xã Việt Nam nói riêng, phục vụ hiệu quả cho chiến lưược xây dựng nông thôn, xây dựng đất nưước thời kỳ hội nhập và phát triển.
 
[1] Trích hồi ký Vũ Đình Hòe, NXB Hội nhà văn
[2] Trích Nghị quyết Hội nghị lần thứ bẩy Ban chấp hành Đảng cộng sản Việt Nam khóa I0
[3] Tham khảo Hà Văn Tấn " Làng- Liên làng- Siêu làng.."
[4] Tham khảo Hà Văn Tấn " làng liên làng- Siêu làng"  tr 51-58

Tác giả bài viết: GS.TS. Nguyễn Quang Ngọc

Nguồn tin: chuyencuachi.blogspot.com

Close