Học liệu tham khảo môn LSMTVN: GỐM THỜI MẠC CÓ MINH VĂN

Thứ bảy - 07/01/2017 04:48


Thời Mạc (1527-1592) là một triều đại tiếp nối triều Lê Sơ, còn để lại nhiều dấu ấn về mặt kinh tế, quân sự, giáo dục, ngoại giao. Trong đó, ngành nghề sản xuất đồ gốm cũng để lại nhiều sản phẩm đặc biệt. Đó là những đồ gốm có minh văn là chữ Hán - Nôm, được khắc, in nổi hay viết bằng men lam trên các sản phẩm. Nhờ các minh văn này, chúng ta có thể biết được khá chắc chắn những thông tin về niên đại, họ và tên, quê quán của các nghệ nhân, về những thiện nam tín nữ cùng quê quán của họ đã đóng góp cho việc đặt hàng gốm để cung tiến vào những ngôi chùa, đền miếu. Chính vì vậy, nghiên cứu về gốm thời Mạc có minh văn sẽ giúp ta nhận rõ các loại hình, hoa văn và men của những đồ gốm khác còn chưa rõ niên đại. Gốm thời Mạc có minh văn, không chỉ cung cấp tài liệu cho lĩnh vực nghiên cứu kinh tế hàng hoá thời đó mà còn góp phần soi sáng nhiều vấn đề lịch sử xã hội khác. Gốm thời Mạc có minh văn cũng là một phần quan trọng trong khối tài liệu về đồ gốm Việt Nam có minh văn từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 19.

Lư hương gốm men lam xám, tác giả Đặng Huyền Thông, 1589

1. Lịch sử nghiên cứu
Đồ gốm Việt Nam có minh văn đã được chúng tôi tập trung nghiên cứu và công bố từ năm 1986, trong số Thông báo khoa học của Bảo tàng Lịch sử Việt Nam (Nguyễn Đình Chiến, 1986: 125-133).
Năm 1991, trong Hội nghị thông báo khảo cổ học, chúng tôi tập trung giới thiệu về 2 tác giả làm gốm ở Bát Tràng dưới triều Mạc là Đỗ Phủ và Đỗ Xuân Vi (Nguyễn Đình Chiến, 1991a: 136-137). Cùng năm đó, trên tạp chí Khảo cổ học, chúng tôi giới thiệu về nhóm đồ gốm chế tạo dưới triều Mạc của tác giả Đặng Huyền Thông (Nguyễn Đình Chiến, 1991b: 55-56).
Năm sau, cùng Trịnh Căn, chúng tôi có thêm tài liệu công bố về tác phẩm gốm của Đặng Huyền Thông (Nguyễn Đình Chiến-Trịnh Căn, 1992: 272-273).
Năm 1995, trong sách Gốm Bát Tràng, thế kỷ 15-19, chúng tôi lần đầu tiên giới thiệu về những đồ gốm thời Mạc có minh văn (Phan Huy Lê, Nguyễn Đình Chiến, Nguyễn Quang Ngọc, 1995).
Năm 1996, tôi hoàn thành luận án Phó Tiến sỹ Sử học đề tài “Đồ gốm Việt Nam có minh văn thế kỷ 15-19) (Nguyễn Đình Chiến, 1996).
Ba năm sau, dưới sự tài trợ kinh phí của Toyota Foundation Japan, chúng tôi xuất bản cuốn sách “Cẩm nang đồ gốm Việt Nam có minh văn, thế kỷ 15-19” (Nguyễn Đình Chiến, 1999a).
Cuốn sách vừa in xong, chúng tôi lại nhận thêm các thông tin về tác phẩm gốm có minh văn của tác giả Đặng Huyền Thông và của gia đình Đỗ Phủ (Nguyễn Đình Chiến, 1999b: 78-82).
Năm 2006, cùng với Thomas Ulbrich, chúng tôi lại giới thiệu trong Thông báo khoa học của Bảo tàng Lịch sử Việt Nam “Tài liệu mới về đồ gốm Việt Nam có minh văn” (Nguyễn Đình Chiến-Thomas Ulbrich, 2006: 140-145). Trong bài này có đề cập đến phần dưới một chiếc chân đèn hoa lam hiện lưu giữ tại một sưu tập riêng ở Paris.
Tháng 6 năm 2007, bà Miriam Lambrecht, ở Bảo tàng Hoàng gia của Nghệ thuật và Lịch sử Brussels- Vương quốc Bỉ, có gửi cho tôi 12 bức ảnh chụp về một chiếc chân đèn gốm lam xám thuộc trong số hiện vật hiếm quý của Clément Huet.
Nhân đấy, chúng tôi đã có dịp giới thiệu trong Hội nghị Thông báo khảo cổ học (2007), trên tạp chí Cổ vật tinh hoa (2008) và trong Thông báo khoa học- Bảo tàng Lịch sử Việt Nam (Nguyễn Đình Chiến, 2007: 155-163).

Phần dưới chân đèn gốm men lam xám, tác giả Đặng Huyền Thông, 1580
2. Các tác giả chế tạo đồ gốm
Từ kết quả nghiên cứu, chúng tôi công bố các tài liệu đồ gốm thời Mạc có minh văn thì thấy loại hình đồ gốm đều thuộc về chân đèn, lư hương, bình, tháp. Nhưng trong số đó chủ yếu là bộ chân đèn, lư hương với kích thước lớn, trang trí tinh xảo. Chính từ nguồn tài liệu này chúng ta có điều kiện tìm hiểu về các tác giả làm gốm tiêu biểu dưới triều Mạc như sau;
2.1. Tác giả Đặng Huyền Thông, xã Hùng Thắng, huyện Thanh Lâm
Minh văn trên chiếc bình gốm lam xám, hiện tàng trữ tại Bảo tàng Hải Dương cho biết thời gian chế tạo là ngày 21 tháng 9 năm Diên Thành 3 (1580). Tác giả là Sinh đồ Đặng Mậu Nghiệp, tự là Huyền Thông. Như vậy, tác giả này đã thi đỗ tam trường nên mới được gọi là Sinh đồ. Tên thật của ông là Mậu Nghiệp, tên chữ là Huyền Thông.
Minh văn trên 2 phần dưới chân đèn gốm lam xám, hiện cũng giữ tại Bảo tàng Hải Dương cho biết thời gian chế tạo vào tháng 8, năm Diên Thành 4 (1581) cũng thấy ghi tên người chế tạo là Đặng Mậu Nghiệp, tự Huyền Thông.
Nhưng từ năm Diên Thành 5 (1582) trở về sau, trên các tác phẩm gốm lam xám có khi kết hợp men vàng nâu, do ông chế tạo đều chỉ ghi Đặng Huyền Thông.
Về quê quán của ông, đa số các đồ gốm lam xám có ghi xã Hùng Thắng, huyện Thanh Lâm. Nhưng, riêng trên lư hương chế tạo vào tháng 8, năm Diên Thành 5 (1582) hiện giữ tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam thì ghi cả tên phủ Nam Sách (chữ nổi, cỡ to, không phủ men).
Như thế, địa danh quê ông được xác định rõ là xã Hùng Thắng, huyện Thanh Lâm, phủ Nam Sách (nay là xã Minh Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương).
Chúng tôi đã làm bảng thống kê năm 2014, trên cơ sở các tài liệu đã được công bố (chưa kể nhiều trường hợp gần đây mới được biết), tác phẩm của Đặng Huyền Thông có minh văn là 25, còn 20 trường hợp khác có cùng loại hoa văn và men, được xem là mang phong cách Đặng Huyền Thông và 3 trường hợp ghi tên Đặng Thiện Sỹ, có thể là con cháu hay học trò của ông, chế tạo vào năm cuối cùng của niên hiệu Hồng Ninh (1592).
Qua một số minh văn trên tác phẩm của Đặng Huyền Thông, chúng ta còn biết đến bà vợ của ông là Nguyễn Thị Đỉnh, hiệu Từ Am. Đi cùng tên họ của bà là Đặng Thị Dựng, có lẽ là con gái của bà.
Cũng tập hợp tài liệu gốm có minh văn của Đặng Huyền Thông còn cho ta biết thời gian chế tạo gốm của ông, từ năm 1580-1590.
Loại hình đồ gốm của ông có chân đèn, lư hương ,tháp mô hình tháp. Tất cả đều sử dụng trang trí nổi, các đề tài rồng, cánh sen, lá đề, và điểm đặc biệt là tạo dáng lư hương mang hình bóng kiểu trống đồng Đông Sơn cùng nhiều băng hoa văn răng cưa, vạch thẳng song song, như là một tín hiệu hồi âm của văn hoá Đông Sơn xa xôi.
2.2. Gia đình Đỗ Phủ, xã Bát Tràng, huyện Gia Lâm
Theo tài liệu hiện vật, gia đình Đỗ Phủ, xã Bát Tràng, huyện Gia Lâm còn để lại họ và tên trên 12 tác phẩm gốm. Trong đó có 2 chiếc lư hương ghi: Đỗ Phủ và vợ Nguyễn Thị Bản, con trai Đỗ Xuân Vi, con dâu Lê Thị Ngọc, con gái Đỗ Thị Tuân.
Nhiều đồ gốm có niên đại thấy lưu tên Đỗ Xuân Vi, với đặc điểm về tạo dáng, hoa văn và men cho phép so sánh xác định cho loại đồ gốm khác chưa rõ niên đại. Chẳng hạn, loại bông hoa nổi 12 cánh nhọn để mộc, có thể được làm ra từ một mẫu khuôn, đủ để nhận dạng tác phẩm do ông sản xuất.
Với cặp chân đèn gốm men rạn ghi tên họ Đỗ Phủ, xã Bát Tràng, huyện Gia Lâm (hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia), thời gian chế tạo là niên hiệu Hoằng Định (1600-1618) đã cho phép khẳng định mốc sản phẩm men rạn đích thực được chế tạo khởi đầu tại lò gốm Bát Tràng.
Theo dõi thống kê các tác phẩm gốm của gia đình Đỗ Phủ đều thấy thuộc loại hình chân đèn, lư hương loại vẽ lam, hoặc vẽ lam kết hợp trang trí nổi để mộc (rồng, phượng, lá đề) với vẽ lam (mây, hoa, cánh sen có xoắn ốc).
Nhiều đồ gốm có ghi niên đại tuyệt đối, thuộc các niên hiệu Hưng Trị, Đoan Thái (triều Mạc) và Hoằng Định (triều Lê Trung Hưng).
Ở làng gốm Bát Tràng, ngoài gia đình Đỗ Phủ, chúng tôi còn gặp các tác giả khác như họ Hoàng (đồ gốm niên hiệu Sùng Khang), Bùi Nghĩa, Bùi Thị Đỗ, Vũ Ngộ Tiên, Hoàng Thị Vệ, Trần Thị Ngọ, Bùi Huệ.

Chân đèn hai phần, gốm men lam xám và vàng nâu, tác giả Đặng Thiện Sỹ, 1592

1: Chân đèn hai phần gốm men lam xám và vàng nâu, tác giả Đặng Huyền Thông, 1588
2: Chi tiết minh văn trên chân đèn gốm hoa lam, tác giả Nguyễn Phong Lai và Hoàng Ngưu, 1580
3: Phần dưới chân đèn gốm men lam xám, tác giả Đặng Huyền Thông, 1589

2.3. Tác giả Nguyễn Phong Lai và Hoàng Ngưu (hiệu Phúc Ninh) ở xã Nghĩa Lư, huyện Cẩm Giàng
Những chân đèn gốm hoa lam hiện còn, ghi niên đại tạo tác là ngày 24 tháng 6 năm Diên Thành 3 (1580), niên hiệu Diên Thành (1578-1585), có trường hợp khác là năm Diên Thành 4 (1581).
2.4. Tác giả Nguyễn Nghiễm, xã Bá Thuỷ, huyện Phúc
Về tác giả này thấy ghi tên trên cặp chân đèn gốm hoa lam vẽ rồng và long mã, phượng, cánh sen dài có xoắn ốc.
Hiện nay, 1 chiếc do Bảo tàng Lịch sử Việt Nam giữ, 1 chiếc do Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam giữ.
Minh văn còn cho biết rõ cặp chân đèn này được làm để dâng vào chùa Đại Bi, xã Yên Hưng, huyện Thần Khê, phủ Tân Hưng. Niên đại sản xuất vào năm Đoan Thái 3 (1587).

3. Đóng góp vào việc đính chính niên biểu thời Mạc
Qua các tài liệu đồ gốm có minh văn thời Mạc, chúng tôi đã xác định lại bảng niên biểu đời Mạc Mậu Hợp như sau:
Sùng Khang 1568-1578
Diên Thành 1578-1585
Đoan Thái 1585-1588
Hưng Trị 1588-1591
Hồng Ninh 1591-1592\

TÀI LIỆU DẪN:
Nguyễn Đình Chiến.
1986. Về sưu tập đồ gốm men có niên đại ở Bảo tàng Lịch sử Việt Nam. BTLSVN.
Thông báo khoa học: 125-133.
1991a. Về 2 tác giả. NPHMVKCH: 136-137.
1991b. Nhóm đồ gốm. T/c Khảo cổ học: 55-56. 1993. Về 41 đồ gốm. NPHMVKCH: 293-295.
1996a. Đồ gốm Việt Nam có minh văn thế kỷ 15-19. Luận án Phó Tiến sỹ Sử học.
1996b. Về 27 tác giả làm gốm Việt Nam ở thế kỷ 15-17. BTLSVN. Thông báo khoa học: 96-100.
1997. Nửa thiên niên kỷ gốm Bát Tràng. BTLSVN. Thông báo khoa học: 109-122
1999a. Cẩm nang đồ gốm Việt Nam có minh văn, thế kỷ 15-19.
1999b. Thêm những đồ gốm Việt Nam có minh văn thế kỷ 16. BTLSVN.
Thông báo khoa học: 96-100.
2007. Chân đèn gốm lam xám của nghệ nhân Đặng Thiện Sỹ năm 1592. BTLSVN.
Thông báo khoa học: 155-163.
Nguyễn Đình Chiến-Trịnh Căn
1992. Thông tin mới về tác giả làm gốm Đặng Huyền Thông thế kỷ 16.
NPHMVKCH. 272-273
Nguyễn Đình Chiến-Thomas Ulbrich
2006. Tài liệu mới về đồ gốm Việt Nam có minh văn. BTLSVN.
Thông báo khoa học: 140-145.
Phan Huy Lê, Nguyễn Đình Chiến, Nguyễn Quang Ngọc
1995. Gốm Bát Tràng, thế kỷ 15-19.


 

 

Tác giả bài viết: Nguyễn Đình Chiến

Nguồn tin: Bài đăng trên Tạp chí Mỹ thuật Nhiếp ảnh số tháng 9/2014

Close