Học liệu tham khảo môn LSMTTG: VÀI NÉT VỀ CỐ KHẢI CHI - ĐẠI DANH HỌA TRUNG HOA CỔ ĐẠI

Thứ năm - 04/05/2017 05:59


Trong pho Tấn thư có chép tiểu sử Cố Khải Chi, một tài năng trác việt, một nhân cách cao đẹp. Còn sau này, người ta coi Cố Khải Chi, Lục Thánh Vi và Trương Đăng Giao là ba đại danh họa thời Lục triều, Trung Quốc: "Trương họa nhục, Lục họa cốt, Cố họa thần".
Cố Khải Chi tự là Trường Khang, sinh năm 345, hồi nhỏ theo học Vệ Hiệp, một họa gia kiêm văn nhân. Vệ Hiệp lại là học trò của danh họa người nước Ngô là Tào Bất Hưng. Cố Khải Chi đã sớm tu luyện được những tuyệt kỹ của cả Vệ Hiệp và Tào Bất Hưng. Nhưng ông cũng nhanh chóng ý được rằng, phải vẽ không giống ai trên đời, vẽ để người đời sau phải công nhận rằng ông đứng riêng một cõi. Hơn 500 năm sau, danh sỹ Lý Tự Chân, đời Đường, đã viết trong sách Hậu họa phẩm: “Cố thiên tài kiệt xuất, đứng riêng một mình một cõi, không ai sánh bằng. Ông suy nghĩ ngang với tạo hóa, hiểu được diệu lý của sự vật…”. 

Tài năng và nhân cách 
      Cố Khải Chi kiệt xuất về vẽ chân dung, trong đó bao giờ ông cũng dồn hết tâm lực vào đôi tròng mắt. Có những bức chân dung, vẽ xong vài ba năm ông mới vẽ hoàn tất đôi mắt. Ông cho rằng: “Các bộ phận khác của con người, nếu vẽ đẹp hoặc xấu đi một chút cũng không quan trọng lắm. Duy có đôi mắt là nói lên tâm tư, bản ngã người ta, tôi phải chờ nắm bắt được thần sắc của nó, chứ đâu dám vẽ bừa”. Có thời gian Cố Khải Chi giúp việc cho đại danh gia của một vọng tộc lớn thời Lục triều là ân Trọng Kham. Cố Khải Chi nhiều lần ngỏ ý muốn vẽ chân dung ân Trọng Kham, nhưng đều bị từ chối. Đó là do họ ân biết Cố Khải Chi rất chú trọng vẽ đôi mắt, mà ân Trọng Kham thì biết đôi mắt mình có khuyết tật, vẽ vào tranh sẽ phơi bày điểm yếu đó. Cố Khải Chi thuyết phục mãi họ ân mới đồng ý. Cố Khải Chi vẽ bức chân dung rất giống và đẹp, sau đó ông dùng ngọn bút khỏa nhẹ lên đôi tròng mắt, tựa như một lớp sương khói mỏng. Do vậy, đôi mắt ân Trọng Kham giống như thật, mà lại đẹp và chất chứa nhiều xúc cảm cuộc đời, một vẻ đẹp hơn hẳn cả khi đôi mắt chưa bị khuyết tật. 
      Năm 24 tuổi, Cố Khải Chi, đã là một họa gia danh tiếng, đến kinh thành. Dịp đó chùa Ngoãn Quan vừa trùng tu xong, các vị hòa thượng lên kế hoạch lạc quyên. Khá nhiều người hảo tâm đã đến làm công đức, hầu hết là quan chức và các bậc phú hào, nhưng chưa có người nào cúng dâng tới 10 vạn tiền. Cố Khải Chi tới chùa, lướt nhìn danh sách những người đã lạc quyên, rồi cầm bút ghi vào danh sách đó 100 vạn tiền. Việc này lập tức lan truyền khắp kinh thành. Người đời ai chả biết Cố Khải Chi là một danh họa thanh hàn. Một số hòa thượng đến hỏi xem Cố Khải Chi có thể cho tiền không, Cố liền bảo: “Xin hãy quét vôi lại bức tường phía Đông trong Hậu cung. Chỉ trong vòng 30 ngày là có đủ 100 vạn tiền”. Vốn trọng tài năng và nhân cách của Cố Khải Chi, các vị hòa thượng làm theo lời ông. Cố Khải Chi lền đóng cửa Hậu điện, vẽ một bức bích họa mô tả cuộc biện thuyết của Bồ tát Văn Thù với Bồ tát Duy Ma Cật. Theo Phật điển, Duy Ma Cật là đệ tử đắc pháp hàng đầu của Thích Ca, nhưng không xuất gia là hòa thượng mà vẫn sống ở nhà như một trưởng giả. Thích Ca nhiều lần cho các đệ tử đến thuyết phục Duy Ma Cật, nhưng chưa hiệu quả. Lần này, Bồ tát Văn Thù tình nguyện đến thuyết phục. Duy Ma Cật thác bệnh trong khi tiếp Văn Thù. Trong bức bích họa, Cố Khải Chi phải dừng lại nhiều buổi mới vẽ xong đôi tròng mắt Duy Ma Cật. Hoàn tất, bức tranh mô tả sinh động toàn cảnh cuộc biện thuyết, có cả chư tiên trên trời rải hoa xuống trong nghi thức cúng dường… Rồi Cố Khải Chi bảo các vị hòa thượng mở cửa Hậu điện cho khách thập phương vào xem và thu tiền lạc quyên. Các thí chủ kéo đến, không tiếc tiền của trước chùa Ngoãn Quan cũng như trước bức bích họa của Cố Khải Chi. Quả nhiên, chỉ vài ngày, số tiền thu được đã lên tới hơn 100 vạn!
       Theo các thư tịch cổ, Cố Khải Chi có hơn 60 bức họa nổi tiếng, nhưng đáng tiếc, qua 16 thế kỷ chúng bị thất lạc và hư hại nhiều. Do sự hủy hoại của thời gian và nhiều cơn binh lửa, chùa Ngoãn Quan cùng bức bích họa kỳ vĩ của Cố Khải Chi cũng không còn dấu vết. Trong số những kiệt tác của Cố Khải Chi có hai tác phẩm được thiên hạ từ cổ chí kim tán thưởng, đó l
àNữ sử châm đồ và Lạc thần phú đồ.
Khoảng 50 năm trước khi Cố Khải Chi ra đời, ở Tây Tấn có Hoàng hậu họ Giả thanh thế rất lớn và cũng rất tàn ngược, vô đạo. Bấy giờ có Trương Hoa, một chính khách và cũng là một thi nhân nổi tiếng, lấy làm lo sợ về mối họa do Giả Hoàng hậu gây nên. Bởi vậy, Trương Hoa đã viết một bài văn nhan đề Nữ sử châm. Đến thời Cố Khải Chi, họa sỹ dựa vào bài văn để vẽ một bức tranh. Bài văn có 12 tiết thì bức tranh gồm 12 đoạn, mô tả tấm gương các liệt nữ. Văn của Trương Hoa nêu tích cũ với những câu cách ngôn đậm tính giáo điều, còn hội họa của Cố Khải Chi đã mô tả được tính cách nhân vật và thể hiện được không khí cuộc sống của giới nữ lưu cung đình đương thời một cách đậm nét. Trong sách Mặc duyên vựng quan (quyển 3) của Tùng Tuyền lão nhân An Ly Thôn đời Thanh soạn, có viết: “Cuộn tranh Nữ sử châm của Cố Khải Chi cao 7 tấc, dài hơn 1 trượng, nhân vật cao không qua 4 tấc, màu sắc tươi đẹp, thần khí sung mãn. Từ bút pháp đến bố cục của tranh cao diệu, các họa gia đời Đường không thể sánh nổi…”.



Lạc thần phú đồ
      Cố Khải Chi vẽ tác phẩm Lạc thần phú đồ cũng với một bút pháp tinh diệu, dựa theo bài phú Lạc thần nổi tiếng của Tào Thực viết về mối tình không tưởng và đầy huyền hoặc đối với Lạc thần Mật Phi. Tào Thực, trong tranh của Cố Khải Chi cô đơn giữa đám người hầu như say, như tỉnh, ngây ngất nhìn về phía Mật Phi. Còn hình dáng Mật Phi thì huyền hoặc như một ảo ảnh giữa khói mây, sông, núi. Ngắm nhìn tranh của Cố Khải Chi, thấy phong cách, bút pháp của ông chất chứa tinh hoa tranh khắc đá đời Hán, nhưng đường nét hội họa thanh thoát, cứng cáp và phiêu hốt. Bởi vậy, tranh của ông tràn đầy vẻ đẹp cổ phác. Trong sách Lịch đại danh họa ký của Trương Ngạn Viễn, đời Đường, viết: “Nét bút của Cố Khải Chi mạnh mà bay bổng, liên miên, quanh quất xa vời, cách điệu siêu thoát mà giản dị, như gió thổi, chớp giật; ý có trước khi hạ bút, vẽ xong mà ý vẫn còn, bởi vậy tranh tràn trề thần khí…”.
      Hai tác phẩm Nữ sử châm đồ v
à Lạc thần phú đồ, qua các triều đại đều được coi là bảo vật quốc gia. Đến đời Tống, Vua Tống Huy Tông cho đưa về bảo quản tại cung đình, được bảo tồn qua đời Nguyễn, đời Minh đến cuối đời Thanh. Cho tới cuộc tấn công của Liên quân 8 nước vào Bắc Kinh, họ đã lấy đi nhiều bảo vật cổ, trong đó có hai kiệt tác của Cố Khải Chi. Hiện nay, cả hai bức tranh đang được lưu giữ tại Bảo tàng Anh. Còn ở Trung Quốc, người ta chỉ được biết đến Nữ sử châm đồ và Lạc thần phú đồ qua các bản sao chép của họa sỹ đời Minh.

Tác giả bài viết: Nguyễn Anh Thư (sưu tầm)

Close