Học liệu tham khảo môn LSMTTG: NHỮNG DANH HỌA NỔI TIẾNG THỜI KỲ PHỤC HƯNG

Thứ tư - 19/04/2017 04:50


DANH HỌA LEONARDO DA VINCI

DANH HỌA LEONARDO DA VINCI

Phục hưng nghĩa là tái sinh nên trong thời kỳ Phục hưng, nền nghệ thuật không ngừng phát triển lớn mạnh. Một số họa sĩ tài danh như Léonar de Vinci (1452 – 1519), Michelangelo (1475 - 1564) và Raphael đã ghi dấu ấn riêng của mình trong nền hội họa thời kỳ Phục hưng.
1. Léonar de Vinci (1452 – 1519), thiên tài thời Phục hưng



Léonar de Vinci được đánh giá là bậc thầy hội họa trong thời kỳ Phục hưng. Tuy có xuất thân tầm thường (ông là con ngoại hôn của một luật sư địa phương trong một thị trấn nhỏ Vinci ở vùng Tuscan). Ông là người đa tài, cả về hội họa, kiến trúc, điêu khắc, toán học, thiên văn học, y học, triết học…

Trong suốt cuộc đời sáng tác nghệ thuật Léonar de Vinci vẽ được khoảng 30 bức tranh - một số lượng tranh không nhiều. Những tác phẩm còn giữ cho đến nay của ông đều là những mẫu mực, được coi là đỉnh cao, biểu tượng cho nghệ thuật cổ điển Phục hưng, đầy tính nhân văn, một trong số đó là tác phẩm “La Joconde” hay Chân dung nàng “Mona Lisa”. Ngày nay, người ta chỉ có thể chiêm ngưỡng tác phẩm này qua làn kính dày, giữa đám người xem đông nghẹt trong bảo tàng Louvre (Pháp).



Đây được coi là bức tranh mang vẻ đẹp huyền ảo và đầy ma thuật, luôn thách thức mọi nỗ lực muốn tìm hiểu thấu đáo về thiên tài hội họa của Léonar de Vinci. Người xem không thể chỉ liếc sơ bức “Mona Lisa” một lần rồi thôi, bởi bức tranh luôn thu hút mọi ánh nhìn và thôi thúc mong muốn khám phá của công chúng.



Tác phẩm được vẽ bằng sơn dầu trên một tấm gỗ dương vào thế kỷ 16. Mona Lisa là tên của Lisa del Giocondo - là vợ của một thương nhân tơ lụa giàu có người Florence là Francesco del Giocondo. Bức tranh được đặt hàng cho ngôi nhà mới của họ và để kỷ niệm ngày sinh của đứa con trai thứ hai.

Chân dung Mona Lisa vô cùng sống động, đây là tác phẩm chân dung đặc tả tính cách nhân vật khá thành công. Vẻ đẹp ngoại hình kết hợp vẻ đẹp nội tâm, tính cách đã nêu sự hài hòa cân bằng cho hình tượng nhân vật. Ngoài việc diễn tả chất da thịt sống động, tác phẩm còn thành công ở việc diễn tả gương mặt của Mona Lisa. Nhất là nụ cười của nàng. Họa sĩ đã nhấn đậm hai khóe môi, kết hợp với những đường cong của mắt, mũi, miệng đã tạo được một nụ cười đặc biệt, tồn tại trong mấy trăm năm nay mà vẫn làm mọi người sau mê, hâm mộ. Mona Lisa được đặt ở trước phòng cảnh núi non xa trập trùng, mờ ảo. Tất cả điều đó đã biểu hiện rõ ràng lí tưởng thẩm mĩ thời kì Phục hưng. Con người luôn là trung tâm của vũ trụ, con người ở giữa thiên nhiên, giao hòa và là một nhân tố của thiên nhiên.

Ngày nay vẽ chân dung một phụ nữ là một điều vô cùng bình thường, không gây nên sự xáo động nào. Nhưng với tranh của các họa sĩ thời kì Phục hưng nói chung và Léonar de Vinci nói riêng, việc làm của các ông thực sự là một cuộc cách mạng trong nghệ thuật. Suốt cả thời Trung cổ, trên tranh ta chỉ thấy những gương mặt gầy, má hóp với đôi mắt mở to ngơ ngác, như đang đắm chìm vào một thế giới cao xa vời vợi nào đó. Đó là những hình tượng thánh, chúa trời với sự thánh thiện khắc kỉ. Với cách diễn tả của Léonar de Vinci bên cạnh các hình tượng tôn giáo đó, con người thực với vẻ đẹp tạo hóa ban cho đã được đưa vào tranh, cũng đẹp đẽ, thánh thiện biết bao, đầy tính nhân văn cao cả. Những điều đó chưa bao giờ được thực hiện trong thời trung cổ. Tác phẩm Mona Lisa ngoài những giá trị về mặt nghệ thuật thể hiện tài năng của Léonar de Vinci, còn có một giá trị hết sức lớn lao. Đó là giá trị về mặt nội dung, về mặt tư tưởng thẩm mĩ gia trị nhân văn cao cả.

Trong phong cách, Léonar de Vinci đã sử dụng một cách biểu hiện mới mà người Ý gọi là phương pháp "Sfumato”, hình thức hòa trộn khó phân biệt, ánh màu tinh tế, tạo sự chuyển tiếp . Điều này có ý nghĩa là mọi thứ không diễn tả rõ ràng quá, để còn khơi gợi trí tưởng tượng phong phú cho người xem tranh. Như vậy tranh sẽ hấp dẫn, thu hút người xem hơn, cách biểu hiện tâm trạng, nụ cười của Mona Lisa chính là một "Sfumato", Mona Lisa vừa cười, lại vừa không cười. Nàng vui hay buồn? Ta khó có thể đoán được nội tâm sâu kín của nàng. Tất cả ẩn dấu sau đôi mắt, khóe miệng. Cái cười được dấu đi, song vẫn có thể bộc lộ rõ ràng nếu tâm trạng người ngắm tranh đang vui và ngược lại. Tài năng của Léonar de Vinci chính là ở chỗ đó. Và giá trị của tranh chân dung Mona Lisa cũng chính là ở đó. Vẻ đẹp của Mona Lisa vừa rõ ràng, vừa ẩn giấu, vừa xa lạ, vừa thân quen. Vì vậy, càng ngắm tranh càng phát hiện ra nhiều điều mà nếu nhìn lướt ta không thể nhận ra. Phải chăng đó chính là điều hấp dẫn, thu hút của tác phẩm, khiến nó sống mãi, vượt qua thời gian, không gian và đến với tất cả mọi người, với mọi thời đại.

Một trong những tác phẩm nổi tiếng khác của Leonardo Da Vinci là bức vẽ “Bữa tối cuối cùng” – The Last Supper. Bức tranh nổi tiếng vì sự tinh xảo, giá trị nghệ thuật trong bức tranh, đặc biệt hình ảnh chúa Jesus và 12 vị tông đồ được thể hiện rõ nét cảm xúc. 



Bức tranh của Da Vinci mô tả lại bữa tối cuối cùng của Jesus và 12 vị tông đồ trước khi ngài bị chỉ điểm

Bức tranh được vẽ bằng màu keo trên mặt tường với kích thước 8,8m x 4,6 m, được sáng tác vào khoảng năm 1495 đến 1498. Bức tranh nằm trên tường nhà ăn chung của Tu viện – Nhà thờ của dòng Đa minh Santa Maria ở thành phố Milano.

Để thực hiện tác phẩm này, Leonardo da Vinci phải đi quan sát thực tế rất nhiều để nắm bắt các sắc thái điển hình (về dung mạo, hành vi, trang phục) cho từng nhân vật, và đã thực hiện rất nhiều khảo họa. Tác phẩm ngay sau khi hoàn thành, đã gây choáng váng cho người đương thời vì dáng vẻ hiện thực sống động, vô cùng tinh tế trong cách thức thể hiện các nhân vật, vì sự thông minh bác học trong cách phối cảnh, và, vì sự hài họa tự nhiên trong cách bố cục, điều phối màu sắc… 
 
Câu chuyện kể lại: Judas - một trong số các môn đồ của Chúa Jesus – đã tố giác với nhà cầm quyền La Mã để bán đứng người thầy của mình đổi lấy 30 thỏi bạc. Ở bữa ăn tối cuối cùng, Chúa đã nói với các tông đồ của mình: "Trong các người có kẻ muốn bán rẻ ta". Mười hai môn đồ ngồi trong bàn ăn, mỗi người có một vẻ mặt khác nhau: ba người thì thầm với nhau, ba người tỏ vẻ giận dữ trong đó có một người đập mạnh tay xuống bàn, một người lộ vẻ nghi ngờ, một người tỏ ra ngạc nhiên, một người ngồi ngay ngắn tỏ lòng trung thành, hai người nữa lộ vẻ xúc động. Chỉ có một môn đồ mặt tái nhợt, lưng hơi ngả về sau, tay nắm chặt túi tiền - đó chính là Judas. Sau lưng Judas là một khoảng tối, còn sau lưng chúa Jesus là hình ảnh cửa sổ đầy ánh sáng. Những tia sáng chiếu vào gương mặt Jesus làm ánh lên vẻ điềm tĩnh, hiền từ và cương nghị. Sự tương phản này được cho là biểu đạt được sự căm thù của tác giả đối với gian ác, cũng như sự ngưỡng vọng đối với chính nghĩa. Mỗi người trong tranh biểu hiện thái độ khác nhau với lời nói của Jesus, kẻ ngạc nhiên, người kinh hãi...

Giữa bầu khí xúc động náo nhiệt ấy, một mình Chúa ngồi rất điềm tĩnh, nét mặt hiền dịu in trên nền trời xanh êm ả, coi như Ngài không lưu ý gì tới sự xôn xao náo động chung quanh. Tuy nhiên người ta đọc được nét thoáng buồn trên khuôn mặt và hai bàn tay của Chúa.

Cách bố cục trong tranh rất tài tình. Tác giả dàn xếp các nhận vật thành từng nhóm 3 người, mỗi bên hai nhóm. Chúa ngự giữa trung tâm bức tranh. Tất cả các đường nét, các điệu bộ, cử chỉ đều hướng về trung tâm. Từ nhóm nọ sang nhóm kia, tác giả cũng hữu ý nối kết lại với nhau bằng những đường nét rất tự nhiên.


Điều đáng tiếc, là tác phẩm nhanh chóng bị hư hại, một phần là do Leonardo da Vinci đã  dùng kỹ thuật vẽ trực tiếp trên nền thạch cao khô (chứ không phải trên nền thạch cao ướt được dùng phổ biến đương thời), và phần khác là do sự phá hoại của con người. Tác phẩm cũng đã được phục chế nhiều lần, nhưng chính sự phục chế này, đã gây nên các tranh luận gay gắt về diện mạo chân thực của tác phẩm hiện tại!…
Cho đến ngày nay, “Bữa ăn tối cuối cùng” của Leonardo da Vinci luôn được xem là một kỳ quan thế giới do con người tạo nên…

 
2. Michelangelo (1475 - 1564)



Ông là một nhà điêu khắc - kiến trúc - hội họa và nhà thơ nổi tiếng của thời kì Phục hưng. Ở bất cứ lĩnh vực nào Michelangelo cũng để lại những tác phẩm được lưu giữ mãi tới mai sau.

Tác phẩm điêu khắc Pieta của Michelangelo


Với tác phẩm Pieta ở nhà thờ thánh Pi-e đã đưa tên tuổi và uy tín của ông đến với mọi người. Khi nhận được hợp đồng này, Michelangelo đã để ra 5 năm để hoàn thành tác phẩm. Ở tác phẩm này ông đã thành công ở việc diễn tả nỗi đau, lòng thương xót của Đức Mẹ khi bế trên tay Chúa Giê - su đã qua đời. Tác phẩm đã sử dụng thủ pháp đối lập giữa nét mềm mại biểu hiện các nếp áo, váy phong phú đa dạng với mảng phẳng nhẵn ở cơ thể Chúa Giê-su. Sự đối lập đó đã làm nổi bật hai nhân vật khác hẳn nhau, giữa sự sống và cái chết. Trong bức tượng này cũng như nhiều bức tranh khác thời kì Phục hưng, Đức Mẹ luôn luôn được diễn tả rất trẻ. Đây có thể do quan niệm Đức Mẹ đồng trinh trong trắng nên trẻ mãi không già.

Tác phẩm điêu khắc tượng David của 
Michelangelo


Tác phẩm được coi là mẫu mực cho sự Hoàn thiện, nghĩa là hoàn thiện về tỉ lệ, về sự hài hòa giữa vẻ đẹp thể chất với vẻ đẹp tinh thần. Pho tượng được tạo ra từ một khối đá cẩm thạch cao 5,5m. Khối đá cẩm thạch dưới bàn tay và khối óc của nhà nghệ sĩ như đã được biến thành chất da thịt sống động. Thậm chí những đường gân, mạch máu được diễn tả chính xác, nhất là trên đôi bàn tay.



Mọi chi tiết của tượng David có thể nói đều đạt tới sự mẫu mực, chính xác. Qua tượng David, các họa sĩ đời sau đánh giá đây là mẫu mực hoàn thiện của vẻ đẹp cơ thể con người. Các khối hình mặt mũi miệng, tai, tay, chân... trở thành những mẫu hình để các thế hệ họa sĩ, nghệ sĩ ngày nay học hỏi, nghiên cứu.



Tác phẩm David của Michelangelo sau khi hoàn thành đã được dựng ở trước trụ sở hành chính của Thành phố Florence. Dân thành phố này đã coi David như biểu tượng đầy tự hào cho dân ở đây. Họ gọi pho tượng là "Người khổng lồ". Đứng trước người khổng lồ David người ta tin rằng con người là mạnh nhất và con người sẽ vượt qua mọi trở ngại trong cuộc sống. 

3. Họa sĩ Rafael (1483 - 1520)
Raphael là họa sĩvà kiến trúc sư nổi tiếng người Ý. Cùng với Michelangelo và Leonardo da Vinci, ông hình thành bộ ba bậc thầy vĩ đại thời Phục Hưng.
Bức tranh nổi tiếng nhất của ông là tác phẩm “Trường thánh Athénes”.



Trong tác phẩm này, Rafael đã ca ngợi triết học Hy Lạp cổ đại, tranh mô tả 1 căn phòng với vòng cung lớn. Ở chính giữa tranh là hai nhà triết học Platon và A-rít-xtốt.  Hai người đang ở trong phòng bước ra, trước sự chờ đón của mọi người. Điều này thể hiện tư tưởng triết học duy tâm khách quan của Platon và sự dung hợp giữa triết học duy vật chủ quan của A-rít-xtốt. Theo Platon, tầng lớp thứ nhất trong xã hội là các nhà triết học nắm quyền điều hành Nhà nước và nghiên cứu khoa học nghệ thuật. Ta thấy rõ vai trò của triết học trong xã hội Hi Lạp cổ đại. Quan điểm của ông có ảnh hưởng lớn đến các khuynh hướng triết học thời kì trung cổ và cận đại. Trên tranh Rafael vẽ trên năm mươi nhân vật. Đó là những học giả, nhà triết học, những đại biểu của khoa học, nghệ thuật của các thời kì sau đến tận thời Phục hưng. Trong đó cả sự hiện diện của Léonar de Vinci, Rafael và nhiều người khác. Tất cả được sắp xếp rải trên các bậc cấp. Với sự sắp xếp các mảng màu, bố cục chặt chẽ gắn bó diễn tả nhân vật nổi bật trên nền kiến trúc. Phía sau A-rít-xtốt và Platon là khung cửa với bầu trời xanh tạo vẻ độc đáo, tự nhiên và hiện thực cho tác phẩm. Đồng thời biểu hiện được sự sâu thẳm của không gian mặc dù bố cục tranh bó gọn trong không gian kiến trúc.

Tranh của Rafael biểu hiện cái đẹp nhẹ nhàng, uyển chuyển và duyên dáng, mang nội dung lịch sử tôn giáo và tín ngưỡng sâu sắc. Tranh của ông là những mẫu mực về màu sắc, bố cục, hình họa.

Tác giả bài viết: Nguyễn Anh Thư (sưu tầm)

Close