Họa liệu tham khảo môn LSMTTG: VÀI NÉT VỀ QUỐC HỌA TRUNG HOA

Thứ tư - 19/04/2017 05:28


Họa liệu tham khảo môn LSMTTG: VÀI NÉT VỀ QUỐC HỌA TRUNG HOA

Họa liệu tham khảo môn LSMTTG: VÀI NÉT VỀ QUỐC HỌA TRUNG HOA

Trong mĩ thuật Trung Quốc, hội họa là loại hình phát triển nhất, tiêu biểu cho tài năng sáng tạo nghệ thuật của người Trung Quốc. Hội họa còn là sự tổng hợp cao nhất của những quan niệm về vũ trụ, nhân sinh của người Trung Quốc. Người Trung Quốc coi hội họa là hình thức nghệ thuật chân chính duy nhất và do những người có học, có văn bằng sáng tạo ra. Đó là các văn nhân, sĩ đại phu. Hội họa cổ Trung Quốc được coi là có nhiều thành tựu rực rỡ và được xếp vào một trong những nền hội họa lớn trên thế giới.
Hội họa Trung Quốc có truyền thống từ lâu đời. Hội họa Trung Quốc bao gồm nhiều thể loại. Đó là: tranh nhân vật, tranh sơn thủy, tranh hoa điểu.
1. Tranh Nhân vật (人物畫)

Tranh nhân vật đời Tống
 
Tranh nhân vật xuất hiện sớm nhất có lẽ từ thời nhà Thương, đó là sự kiện trong Kinh Thư, thiên Duyệt Mệnh說命: vua Cao Tông nhà Thương mộng thấy hiền thần rồi truyền cho vẽ tranh để tìm kiếm khắp trong thiên hạ. Cuối cùng tìm gặp người giống như bức họa tên là Duyệt ở đất Phó Nghiêm, nhà vua bèn lập ông làm Tể Tướng lấy tên đất làm họ nên gọi ông là Phó Duyệt. Nhân vật trong tranh thường là các chân dung nhân vật lịch sử như Danh thần tướng lĩnh, văn nhân thi sĩ, đặc biệt là các bức mỹ nhân.
2. Tranh sơn thủy (山水畫) là loại tranh vẽ thiên nhiên đất trời, sông núi bắt đầu xuất hiện từ thời Hán, đến thời Ngụy Tấn – Nam Bắc triều đã phát triển thành thể loại đơn lập. Đây là loại tranh tiêu biểu nhất của Trung Quốc, còn được gọi là Quốc họa Trung Hoa.
Khổng Tử nói: “Người trí thích nước, người nhân thích người núi. Người trí động, người nhân tĩnh”. Như vậy sơn thủy là biểu tượng của người quân tử bao gồm cả trí và nhân. Tuy vậy để đạt tới độ tinh túy của tranh sơn thủy, các văn nhân còn chịu ảnh hưởng của tinh thần “Đạo” và “Thiền” của Phật giáo. Dòng nước được Khổng Tử định nghĩa trong Lễ kí - thiên khuyến học là biểu hiện của đức, nhân, nghĩa, dũng, tử, sát (soi xét tinh tường) thiện hóa, có độ, có ý… Vì ý nghĩa cao siêu như vậy mà người Trung Quốc vẽ tranh sơn thủy.

Tranh phong cảnh của Đường Dần thời Minh

Tranh sơn thủy có: hai loại thủy mặc sơn thủy và thanh lục sơn thủy.
a). Tranh thủy mặc sơn thủy là tranh vẽ thiên nhiên sông núi chỉ bằng mực nho và nước với các độ nhạt của mực mà diễn tả được vạn vật. Vương Duy (699-750), một họa gia và nhà thơ của đời Đường được coi là người mở đầu lối vẽ tranh thủy mặc. Ông từng nói: “Trước cảnh đẹp của núi sông, lời không tả hết thì phải vẽ”. Tranh của ông giàu chất thơ và thơ Vương Duy giàu chất hội họa. Trong tranh sơn thủy có nhiều khoảng trống. Họa sĩ Trung Quốc rất giỏi khi xử lí các khoảng trống khiến các vật thể trên tranh như từ đáy sâu bí ẩn của hư không hiện lên, vì vậy tạo ra được cảm giác mênh mông bao la của thiên nhiên. Tranh phong cảnh của Trung Quốc ra đời sớm, và từ thế kỉ VII đến thế kỉ XIII thì dù trở thành trào lưu chủ yếu lấn át cả loại tranh nhân vật. Sự vật trong tranh sơn thủy không được diễn tả theo xa gần. Họ dung thiên nhiên làm tỉ lệ, ví dụ người nhỏ hơn nhà, nhà nhỏ hơn núi… và sử dụng viễn cận theo lối điểm nhìn di động, thường được gọi là viễn cận phi điểu hay tấu mã. Đến đời Tống, tranh thủy mặc phát triển với nhiều tên tuổi họa sĩ nổi tiếng và có ảnh hưởng sâu rộng đến các đời sau. Nhiều bút pháp vẽ sơn thủy cùng với nhiều họa phái ra đời như”Ngô phái”, “Hải phái, Dương châu bát quái” hay “Tứ vương”, “Tứ hiền”...
b). Tranh thanh lục sơn thủy là loại tranh sơn thủy vẽ mực đen, điểm màu xanh lục do họa gia Triền Tử Kiên khởi xướng; nhiều tác phẩm để lại có ảnh hưởng đến đời sau,...
Trong cách vẽ của các họa sĩ Trung Quốc có hai kĩ thuật, hay còn gọi là hai lối dụng bút cơ bản là “công bút” và “ý bút”. Công bút là lối vẽ công phu, tỉ mỉ, vẽ có đường viền chi vi hoàn chỉnh, tỉa tót tinh vi..., “ý bút” là cách vẽ gợi tả khái quát, ước lệ, nét bút thoáng, hoạt. Cũng có lúc các họa gia kết hợp cả hai cách dụng bút để vẽ tranh.
Để thể hiện được một ngọn núi hay một dãy núi thì các hoạ gia phải có góc nhìn từ rất xa để bao quát toàn cảnh. Vì vậy, tranh sơn thủy thường chia thành 3 chủ đề/bố cục: Cao Viễn, Bình Viễn và Thâm Viễn.
Còn nước trong tranh có khi là khe suối trên núi hay là một khoảng thác ghềnh, một khúc sông nước mênh mong tuỳ theo bố cục chung của bức tranh. Dưới đây là ba bố cục chính của tranh sơn thuỷ.
* Cao Viễn
Tranh phong thủy theo bố cục cao diễn hiện ra trước mắt ta một phong cảnh cao cả và hùng vĩ. Núi được dùng làm nội dung chủ đạo. Trong tranh ta thấy đỉnh núi cao vút, trùng trùng điệp điệp và được nhìn từ rất xa, toàn cảnh thể hiện từ đỉnh núi trải dài xuống dưới; tiêu điểm/điểm nhấn của bức tranh có thể thay đổi và xuất hiện từ đỉnh núi xuống chân núi. Bên dưới là hai bức theo bố cục cao viễn.
* Bình Viễn
Tranh Bình Viễn vẽ ra trước mắt ta một phong cảnh mênh mong, xa xăm. Chữ Bình ẩn chứa hai nghĩa là bằng phẳng và yên bình. Núi trong tranh không cao, tác giả dùng phần Thủy làm nội dung chủ đạo nên ta sẽ thấy bức tranh mênh mong sông nước và xa xa là dãy núi lô nhô, chập chùng hay bên cạnh là một phần của ngọn núi cao. Trong tranh thường có cảnh con thuyển và ngư phủ hay các "ông tiên" đang chơi cờ, bình thơ ở các mỏn đá.
* Thâm Viễn
Phong cảnh nhìn từ trên cao xuống thể hiện không gian sâu rộng. Tranh thường hiện ra các thung lũng, hang động trong núi nên mang vẽ u tịch, huyền bí hoặc hiểm trở; là những nơi mà các ẩn sĩ hay tìm đến để lánh đời!
3. Tranh Hoa Điểu (花鳥畫): Nội dung của tranh hoa điểu rất phong phú, đa dạng như chim chóc, hoa cỏ hay các loài vật. Tùy theo sở thích hay sở trường của họa gia mà họ chọn một hoặc một vài loài vật cụ thể để sáng tác.

Tranh Gà của Từ Bi Hồng


Tranh Song Thọ của Tề Bạch Thạch


Tuy có những tiểu loại về tranh Hoa điểu nhưng khi sáng tác, các Họa gia hay kết hợp cây cỏ, điểu thú, trùng ngư lại để tạo nên một chủ đề nào đó cho bước tranh có một ý nghĩa riêng. 

Tác giả bài viết: Nguyễn Anh Thư (sưu tầm)

Close