Học liệu tham khảo môn LSMTVN: DIỄN BIẾN CỦA CÁC LOẠI HÌNH KIẾN TRÚC CỔ VIỆT NAM

Thứ bảy - 13/05/2017 12:38


1. THỜI TRẦN:

Trong các loại hình kiến trúc của thời kỳ này, kiến trúc Phật giáo vẫn chiếm ưu thế. Tuy nhiên, các kiến trúc loại này đã có sự khác biệt so với trước. Vẫn còn Đại – Trung – Tiểu danh lam, nhưng sự phân biệt ấy chỉ mang ý nghĩa tương đối nào đó mà thôi. Mặt khác, đạo Phật dưới thời Trần có sự phát triển khác, cũng ảnh hưởng nhiều đến kiến trúc. Đạo Phật thời Trần với phái Trúc Lâm (do Trần Nhân Tông khai sáng) đã đi vào một khía cạnh sâu sắc nhất của đạo Phật: cái tâm. Đặc điểm nổi bật nhất của triết học Phật thời kỳ này là vô chấp, không lệ thuộc vào hình danh, sắc, tướng, Phật tại tâm và niết bàn vô trụ xứn... Tình hình đó khiến các kiến trúc Phật giáo gắn với triều đình giảm sút. Hiện nay, chúng ta còn gặp một vài ngôi chùa như Phổ Minh (Hà Nam Ninh), Yên Tử (Quảng Ninh), nhưng không còn mang tính chất hành cung nữa, mà thuần túy là kiến trúc tôn giáo.

Về mặt kiến trúc, ngôi tháp vẫn được chú ý. Tuy vẫn là một trong những công trình trung tâm của chùa, nhưng ngôi tháp thường được đẩy ra phía trước và không còn là Phật điện nữa. Như ở Phổ Minh, lòng tháp rất hẹp và ngay sau tháp là một hệ thống thành bậc tam cấp của một tòa nhà mang tư cách Phật điện. Đương nhiên, ngôi chùa có thể còn những kiến trúc khác nữa nhưng hiện nay chúng ta chưa thấy dấu vết để khảo cứu.

Tháp thời Trần thường có nhiều tầng và cao, được nghĩ tới do ảnh hưởng của Trung Hoa. Tầng đế và tầng một vẫn thường làm bằng đá, các tầng trên xây bằng gạch, bốn góc nẹp đá. Các lớp mái của mỗi tầng xây dật cấp và mở rộng ra chưa có dáng cong góc mái – đó là những bảo lưu từ cây tháp Lý.

Vào khoảng những năm 1357 – 1368, sau những cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên với “sức dân như nước”, nhiều ngôi chùa làng với vật liệu bền vững hơn đã xuất hiện. Hiện còn gặp dấu vết ở hai di tích: Bối Khê (Hà Sơn Bình), Thái Lạc (Hải Hưng).

Chùa dạng này được xây dựng trên nền cao, gần như vuông (mỗi cạnh 9 – 11 mét). Trên đó là một kiến trúc bằng gỗ với bốn cột cái, 12 cột quân, mái ngói, không tường bao, vì nóc kiểu “giá chiêng”, cốn “chồng rường”, bầy khá lớn để mở rộng hiên.

Trong chùa, nhất là các chùa ven sông Đáy, thường có một nhang án lớn nằm sát cột cái bên trong, chiếm chiều dài xấp xỉ bề rộng gian nhà.
Nghệ thuật của một ngôi chùa dạng này là sự kết hợp ít nhất của ba dòng khác nhau: dòng bản địa, dòng Trung Hoa được Việt hóa trong kết cấu, dòng Đông Nam Á (chịu ảnh hưởng Ấn Độ qua những đề tài trang trí gắn với Phật thoại).

Có một loại hình đến chỉ còn để lại móng như: Kiếp Bạc, Thiên Trường... Những đền này thờ các nhân thần. Vốn nằm trong các điền trang, thái ấp của các tướng lĩnh, tiền thân là nơi ở của các vị này, khi họ chết thì thành đền thờ.

Thời Trần còn có một loại hình kiến trúc khác là những lăng – miếu mộ. Lăng của vua, miếu của các quan to như miếu mộ Trần Thủ Độ. Thời Lý chắc cũng có lăng mộ nhưng không còn lưu vết gì, trái lại các lăng – miếu mộ Trần còn rất rõ.

Như ở vùng Yên Sinh (Hải Hưng) hoặc ở Thái Bình, mỗi lăng mộ thường chiếm một diện tích gần hết mặt một quả đồi. Thông thường lăng có mặt bằng hình chữ nhật, có lăng dài hơn 100 mét, rộng 60 mét. Tất cả các công trình gắn với lăng được làm cân xứng hai bên trục trung tâm (“thần đạo”). Dấu vết của các kiến trúc khá mờ nhạt nhưng các tượng người, vật đặt làm vật hầu hạ thì còn minh định được. Hệ thống các tượng xếp cân xứng hai bên đường, gần mộ táng.
Như vậy, nếu thời Lý chỉ để lại những dấu vết của một loại hình chùa thì thời Trần để lại ba dạng di tích: chùa, đền, lăng mộ. Tất nhiên, kiến trúc cung đình thì thời nào cũng có và chắc chắn những dạng kiến trúc tôn giáo khác của thời Lý vẫn còn tồn tại dưới thời Trần. Và, bằng vào thư tịch cổ chúng ta còn biết thời Trần có một dạng kiến trúc đình trạm, nơi dừng chân cho khách bộ hành.

2. THỜI LÊ SƠ – THẾ KỶ 15:

Xã hội Việt thời Lê Sơ có sự khác biệt so với các thời kỳ trước. Quan hệ sản xuất thay đổi, giai cấp địa chủ mới nổi lên. Hệ tư tưởng Phật giáo không còn là chỗ dựa để tổ chức xã hội. Tầng lớp địa chủ - nho sĩ, đề cao Nho giáo nhiều khi đến cực đoan. Nghệ thuật dân tộc bị bài bác, văn hóa Trung Hoa được du nhập một cách tích cực. Sử sách còn chép việc vua Lê không nghe Nguyễn Trãi mà dùng lễ nhạc của Lương Đăng...

Với sự phát triển cao của Nho giáo, tầng lớp địa chủ mới đã hạn chế sự phát triển các kiến trúc dân dã, những kiến trúc Phật giáo và Đạo giáo cũng khó phát triển. Tất nhiên chùa vẫn tồn tại nhưng không thấy ngôi chùa nào của triều đình mà chỉ thấy chùa làng.

Triều đình cũng chú ý nhiều hơn đến Văn Miếu, thờ Khổng Tử và các đại Nho. Lê Thánh Tông đã mở rộng Văn Miếu – Quốc Tử Giám, xây dựng nhiều công trình mới, sai làm bia đề danh tiến sĩ. Và lần đầu tiên ta thấy được dấu vết các cung điện. Trong thành Hà Nội và ở Lam Sơn (Thọ Xuân, Thanh Hóa) còn để lại dấu vết mặt nền điện Kính Thiên. Các cung điện được xây cân xứng theo một trục với các cấp nền cao rộng, bề thế. Kết cấu mặt bằng hình chữ “công” với những tòa nhà nhiều gian theo số lẻ xuất hiện. Trước mặt chính điện thường làm ba lối lên (lối giữa của vua, các quan đi hai bên) và các kiến trúc khác theo quan niệm quy ước, gắn với việc đề cao các vua. Như ở Lam Kinh (Thanh Hóa), một con ngòi được đào, chảy từ trái qua phải, cầu lớn Thấu Ngọc bắc qua ngòi này. Dòng chảy được cố tình tạo nên vì nó là biểu hiện cho sự hanh thông, tốt đẹp. Cổng vào khá to lớn với hai con sấu đá, rồi ô tròn hai bên cổng là biểu tượng cho nhật – nguyệt. Sau cổng là các cấp nền rất rộng. Điện Kính Thiên còn 9 ụ đất vuông lớn (9 mét x 9 mét) xếp hình vòng cung. Việc tế lễ đương thời được thực hiện ở điện và 9 ụ đất này. Các tên gọi cung điện, số lượng ụ đất thường gắn với ý nghĩa theo trong kinh “Dịch” nhằm đề cao vua – trời. Đó là một quan nhiệm du nhập từ Trung Hoa.
Tính chất bề thế của các lăng mộ vua, hoàng hậu nhà Lê được xây dựng ở vùng Lam Sơn (Thọ Xuân, Thanh Hóa) như không được đặt ra, mặc dù khuôn viên một lăng mộ khá rộng. Dấu vết còn thấy ở mỗi lăng mộ là một bia đá lớn (cao gần 3 mét, rộng xấp xỉ 1,6 mét) để ghi công trạng của chủ nhân ngôi mộ. Cách khá xa bia đến hàng vài trăm mét là một ngôi mộ nhỏ, mỗi cạnh trên dưới 20 mét, xây gần vuông. Hai bên “linh đạo” (trục trung tâm) đặt cân xứng từng đối tượng người và tượng linh thú. Các tượng này nhỏ, thường chỉ cao từ 0,70 mét đến khoảng 1 mét.

Rõ ràng so với nhà Minh, triều đại phong kiến cùng thời ở Trung Quốc, các kiến trúc mộ thời Lê Sơ không theo cách Trung Hoa. Phải chăng do gốc gác nhà Lê là người Mường nên việc dựng lăng chịu nhiều ảnh hưởng của lệ tục dân tộc. Buổi đương thời, người Việt quan niệm rằng các tượng hầu ở lăng mộ đều có linh hồn (quan niệm này hiện vẫn tồn tại ở nhiêu cư dân Tây Nguyên”. Vũ trụ luận của người Việt gần đây vẫn chia thế giới làm ba tầng: Thế giới Thiên thần bên trên thì to lớn dị thường, nhân gian ở giữa thì bình thường, còn thế giới bên dưới thì nhỏ bé. Con người chết đi nghĩa là đổi kiếp xuống thế giới bên dưới, họ cũng trở nên nhỏ bé. Vì vậy tượng mồ to lớn sẽ làm hồn ma sợ hãi. Hàng năm, ngày giỗ chạp có thể người ta làm những chiếc cổng giả trên con đường từ bia vào lăng. Khách hành hương đi qua các cổng này là đi qua cổng ngõ vào thế giới khác để đến với kiếp người đã qua, với người chết.
Như vậy, lăng mộ thời Lê Sơ dàn trải với một không gian khá rộng lớn, nhưng nó mang nhiều sắc thái dân tộc, trở về với cội nguồn, với quan niệm của nền văn hóa dân tộc.

Dấu vết kiến trúc thời Lê Sơ chỉ để lại có vậy. Nhưng cũng đã gặp một số bia của chùa và vài di vật khác có niên đại Lê Sơ khiến ta có thể chắc chắn rằng: Bên cạnh kiến trúc cung đình, nhiều kiến trúc dân gian đã có từ thời Lý, Trần vẫn được duy trì, nhiều nơi, nhiều lúc còn được xây dựng thêm.

Ngoài ra, qua những cứ liệu lịch sử học ta biết có một loại hình kiến trúc mới được nảy sinh. Đó là đình. Tuy nhiên, các ngôi đình này chưa hẳn là các ngôi đình làng trong phạm trù văn hóa nông thôn, mà còn mang tính cách một kiến trúc áp đặt. Đình bấy giờ chỉ là nơi phổ biến chính lệnh của triều đình. Thực chất đây là một cuộc “với tay” mạnh hơn của triều đình vào tổ chức nông thôn, tới làng xã.

3. THỜI MẠC:

Sau vài chục năm tạm gọi là phát triển, dưới triều Lê Thánh Tông, liền ngay sau đó Nho giáo bị khủng hoảng. Về mặt nào đó xã hội Việt Nam “tự do” hơn trước. Lão giáo có đất phát triển, các tín ngưỡng dân gian và Phật giáo được phục hồi. Lưu thông hàng hóa phát triển mạnh.

Về mặt kiến trúc, các công trình dân dã cũng có những bước biến đổi tích cực: Đình trở thành một thực thể văn hóa của làng xã, chùa mọc lên khắp nơi, các nho sĩ bất đắc chí quay sang Lão giáo, làm cho ngôi quán xuất hiện nhiều hơn, đồng thời với việc phát triển của thương nghiệp để tạo sự ra đời các cầu – chợ.

Trong các dạng kiến trúc trên, đình là loại hình có kiến trúc lớn nhất. Ở các thời kỳ trước cũng đã có đình, nhưng từ thế kỷ 16 đình mang một ý nghĩa – chức năng khác hẳn. Thời Lý, đình là đình trạm – nơi nghỉ chân cho khách đi đường. Thời Trần, đình còn đặt cả tượng Phật. Thời Lê Sơ, đình là nơi công bố luật – lệnh của triều đình. Phải đến thời Mạc, đình mới thực sự trở thành một thực thể của làng xã. “Mái đình cây đa” từ đấy mới ăn sâu vào tâm thức người Việt.

Đình thời Mạc thường có năm gian với bốn hàng chân cột. Kết cấu không khác gì chùa, nhưng tất cả các chi tiết đều có kích thước lớn hơn. Đương thời, đình mới chỉ là một tòa nhà hình chữ nhật, chưa hề có cổng – trụ, tả - hữu vu, “chuôi vô”, “tiền tế”, “hậu cung”... Người Việt coi là đền để đến cầu xin hạnh phúc nơi trần thế. Đó là nơi thờ thần làng, cũng là nơi tập trung sinh hoạt văn hóa của làng xã. Công năng của đình trước kia thuộc về chùa hoặc nhà chủ làng.

Chùa thời Mạc vẫn theo phong cách cũ, với nền cao, một gian hai chái. Các chùa mới xuất hiện thường nằm ven bờ các con sông giao thông chính, thường thờ Quân Âm – vị Bồ Tát gắn với việc phù hộ nghề sông nước.

Kiến trúc quán, nhìn chung không có gì khác biệt so với chùa Hưng Thánh Quán (quen gọi là chùa Mui - Thường Tín – Hà Sơn Bình) có mái lợp ngói to bản, dày (2/22/40cm), chưa có tàu mái, góc mái cũng chưa uốn cong.

Như vậy, từ đình Lỗ Hạnh và Tây Đằng (thế kỷ 14), người Việt có thêm một dạng kiến trúc mới với kiểu tàu đao lá mái, bốn góc vút cong duyên dáng, một hình thức chưa gặp ở thời trước.

Một loại hình kiến trúc mới xuất hiện và gần như chỉ thấy có từ thời Mạc là cầu – chợ. Ở những điểm nút, nơi đường giao thông thủy và bộ cắt nhau, nhu cầu giao thông, trao đổi hàng hóa dần dần làm hình thành các chợ trên cầu. Đó là một cái chợ nhỏ, sinh hoạt thường ngày nên cầu ấy thường làm theo kiểu “Thượng gia hạ kiều”.

4. THỜI LÊ TRUNG HƯNG (THẾ KỶ 17)

Xã hội Việt bấy giờ có nhiều biến động và phát triển theo một chiều hướng mới. Kinh tế tư nhân tiếp túc phát triển. Những quy định của triều đình thiếu sức mạnh chi phối trên bình diện toàn đất nước. Nho giáo tiếp tục bị khủng hoảng, một bộ phận của tầng lớp trên quay trở lại với Phật giáo.

Trong hoàn cảnh xã hội ấy, ngoài sự suy trì, phát triển những kiến trúc đã tồn tại dưới thời Mạc thì một dạng kiến trúc mới được hình thành để phục vụ cho tầng lớp có quyền lực và giàu có: Miếu mộ quận công. Một loạt miếu mộ: Quận Đăng ở Thanh Hóa, họ Đặng ở Hà Bắc, họ Tài ở Hà Đông rồi mộ Mường Đống Thếch ở Hà Sơn Bình... được xây dựng. Đó là những ngôi mộ đá khá lớn được quây lại trong mọt khu vực có tường bao. Cũng như mộ thời Lê Sơ, việc xây dựng được tiến hành hai bên “thần đạo”, gồm nhà bia, các tượng linh thú, tượng người rồi đến mộ. Thời này, do quan niệm thay đổi, tượng người và vật hầu được làm to lớn hơn, nhằm biểu hiện sự sang, quý...

Trở sang các kiến trúc Phật giáo. Do được sự ủng hộ của triều đình cả Trịnh và Nguyễn mà các Phật phái Lâm Tế, Tào Động từ Trung Hoa du nhập mạnh. Các ngôi chùa được xây dựng khang trang bề thế hơn. Người ta chú ý đến các chùa cũ, nổi tiếng như chùa Mía, chùa Thầy, chùa Trăm Gian, chùa Dạm, chùa Phật Tích, chùa Keo... Kiến trúc của các thời trước được kiến tạo lại thành những ngôi chùa theo kiểu thức mới với tòa ngang dãy dọc. Hậu cung dần dần ra đời, tiền đường, nhà tổ xuất hiện, làm hình thành kiểu mặt bằng “nội công – ngoại quốc”. Một số chùa như Bút Tháp, chùa Keo còn được xây thêm nhiều dãy nhà khác. Tính chất khang trang này ít nhiều gắn liền với việc đề cao vua, nhằm đồng nhất việc thờ Phật, thờ thánh với việc tôn trọng tổ chức “phong kiến”. Văn bia ở các chùa thường có câu cầu mong cho vua, cho chúa... Thời kỳ này (khoảng giữa thế kỷ 17) gần như là thời kỳ tập trung những kiến trúc Phật giáo to lớn nhất trong nghệ thuật kiến trúc Phật giáo Việt Nam.

Tới cuối thế kỷ 17, chùa làng ít phát triển nhưng đó lại là thời kỳ phát triển đỉnh cao của đình làng, mang nặng tiềm thức dân gian. Vật liệu chính của việc xây dựng bấy giờ là gỗ lim (trước đó thường dùng gỗ mít) nên cột đình (và chùa) có phần  cao hơn. Về mặt kết cấu, hình thức “vì” được kết hợp giữa chồng rường và giá chiêng. Hiện tượng các xà chui qua cột nhiều hơn trước. Tuy nhiên hình thức xẻ đầu cột cái để lồng quá giang chưa xuất hiện, phần lớn vẫn là đặt trên đầu cột qua một đấu vuông thót đáy. Trong kiến trúc, người ta chú ý nhiều đến các mảng rộng cho những trang trí mang tâm thức dân dã, khiến khách hành hương ít chú ý đến kết cấu.

5. SANG THẾ KỶ 18 – LÊ MẠT

Nội chiến giữa các tập đoàn phong kiến làm kinh tế làng xã kiệt quệ. Nạn kiêm tinh ruộng đất đẩy hàng vạn nông dân lưu tán và dẫn tới hai hệ quả song song, trái ngược nhau: kinh tế tập thể tàn lụi làm hạn chế sự ra đời, phát triển của đình, chùa, làng, các kiến trúc “tập thể” nếu không có sự bảo trợ của nhà giàu thì ít được xây dựng. Hầu như tất cả các ngôi đình đều được tư nhân bảo trợ (đình Đình Bảng có Nguyễn Thạc Lượng).

Kinh tế tư nhân phát triển, đẩy mạnh sự phân hóa giàu nghèo. Luồng lưu thông nội thương phần nào vẫn phát triển, nhưng sự tích lũy vốn không có tính chất tái sản xuất mở rộng, khiến kẻ giàu luẩn quẩn chỉ sử dụng tiền tậu ruộng, xa phí. Từ đó dẫn tới ở nửa đầu thế kỷ hàng loạt miếu mộ quận công ra đời.
Những miếu mộ này là sự phát triển của mộ quận công thời trước, nhưng số lượng tượng hầu nhiều khi vượt cả quy định của triều đình. Lăng họ Ngô – Hà Bắc mới nhìn bên ngoài như một thành đá, tường cao đến 2 mét (quy định 1,6 mét).

6. THỜI TÂY SƠN, CUỐI THẾ KỶ 18

Chỉ trong vài năm ổn định ngắn ngủi nhưng nhà Tây Sơn đã và đang đi tìm một phong cách kiến trúc mới. Một số chùa làng được quan tâm dựng lại. Nhiều ngôi đình được làm thêm tiền tế hoặc tu sửa, bổ sung.

Tuy vậy trong hoàn cảnh Nho giáo khủng hoảng trầm trọng, Phật giáo không đủ khả năng cứu cánh để tổ chức lại xã hội, khiến tầng lớp trí thức phong kiến có xu hướng dung hội cả Phật – Nho làm một. Người trí thức nổi tiếng là Ngô Thì Nhậm, tự xưng là: “Trúc Lâm đệ tứ tổ”, em rể ông là Phan Huy Ích rất am hiểu về đạo Phật. Tình hình đó như dẫn đến sự ra đời của các ngôi chùa Kim Liên và Tây Phương. Có thể “đọc” ra ở hai chùa này nhiều chi tiết dung hội Nho – Phật. Là chùa thờ Phật nhưng lại có những biểu tượng của tư tưởng Dịch Nho, như ba ngôi nhà ứng với Tam Tài và mỗi ngôi nhà lại là biểu tượng của vũ trụ quan Dịch học: Thái Cực – Lưỡng Nghi – Tứ Tượng – Bát Quái. Cụ thể hơn còn thấy ở những cửa sổ “sắc – không” mang ý nghĩa Phật lại bao viền tám quẻ Bát Quái (kiền, khảm, cấn, chấn, tốn, ly, khôn, đoài) của Dịch Nho.

Về kết cấu, các kiến trúc có cột cao, mảnh, đầu cột cái được xẻ để giữ câu đầu và làm nơi xuất phát của các xà ngang – dọc.

7. THỜI NGUYỄN, THẾ KỶ 19

Trong khoảng 20 năm đầu của triều đại này, xã hội Việt khá ổn định. ở đồng bằng Bắc Bộ, các kiến trúc làng xã phục hồi và có phần phát triển. Có thể kể ra nhiều đình làng to lớn: Đình An Đông (Quảng Yên, Quảng Ninh) có đường kính cột lớn 105 cm hay 97 cm. Các đình Tam Tảo (Tiên Sơn, Hà Bắc) cũng to lớn không kém, lại được trang trí trạm trổ kỹ. Rồi chùa Đức La (Yên Dũng, Hà Bắc), đình Cung Trúc (Hải Phòng)... cí thể coi là những điển hình của nghệ thuật đương thời.

Thời kỳ sau đó, do sự khủng hoảng tận gốc của hệ tư tưởng chính thống, con người không còn thấy một cứu cánh nào để giải thoát, ổn định tư tưởng. Các thần linh lắng đọng trong tâm thức dân dã được huy động dậy, khiến mê tín dị đoan nảy nở. Am, miếu, tĩnh đền, điện thờ... mang tính chất đồng cốt xuất hiện và phát triển.

Ngoài ra, bên cạnh những kiến trúc phổ biến, cũng hình thành, phát triển những kiến trúc khác. Nếu thời Lý chỉ có một Văn Miếu ở Thăng Long thì bây giờ Văn Miếu có ở nhiều nơi. Rồi ở các làng xã của thể kỷ 17 lác đác chỉ có vài Văn Chỉ thì tới đầu thế kỷ 19 với việc mua quan bán tước phát triển, khiến làng xã đầy rẫy nho sĩ lớp dưới cuồng tín, đã cho ra đời hàng loạt Văn Chỉ, Tư Chỉ. Đó là những kiến trúc thờ Khổng Tử và những người thi đỗ trong làng xã. Những ngôi đền này nhỏ và xây dựng theo quy định của Triều định. Làng nào có tiến sĩ thì Văn Chỉ có mái, chỉ có cử nhân thì không có mái...

Tầng lớp Nho sĩ cũng góp sức vào việc thâm nghiêm hóa các kiến trúc cổ. Nhiều ngôi đình của các thế kỷ 16, 17, 18 được nảy thêm “chuôi vồ” để làm hậu cung. Tầng lớp này còn ra sức tạo nên ở làng xã một độ mặt “Hương đảng tiểu triều đình” với sinh hoạt ngày hội ở đình, mang hình thức trong triều, nhằm góp phần củng cố trật tự xã hội đã lỗi thời. Những tiền tế, tả - hữu vu được chắp vào hầu hết các ngôi đình, đền cổ để phù hợp với việc tế lễ của đương thời.

Mặt khác, theo thời gian, kinh tế tư nhân ngày càng chiếm tỷ lệ cao, ruộng đất công ngày càng bị thu hẹp, người ta quan tâm nhiều đến bảo vệ quyền lợi về mối liên hệ họ hàng, từ đó nảy nở nhiều hơn dạng kiến trúc nhà thờ họ. Dạng kiến trúc này đã có ở Đồng bằng Bắc Bộ từ thế kỷ 17, phát triển dần qua thế kỷ 18 và đặc biệt phổ biến ở thế kỷ 19.

Cũng trong thời kỳ này, triều đình nhà Nguyễn tập trung sức người, sức của toàn quốc để xây dựng kinh đô Huế với nhiều cung điện, lăng mộ vua. Đó là hệ thống kiến trúc cung đình hầu như duy nhất còn lại ở Việt Nam, là nơi tập trung mọi khả năng nghệ thuật dân tộc. Huế, vì vậy trở thành một tụ điểm văn hóa có giá trị cao cả về nghệ thuật và kiến trúc. Dù có nhiều ảnh hưởng Trung Hoa (những ảnh hưởng chủ động vì vua Minh Mạng cho thợ sang học), nhưng với những cái hay, đẹp, tốt đã được việt hóa, các kiến trúc cung đình Nguyễn trở nên gần gũi, ấm cúng. Một ví dụ, đứng trước Ngọ Môn ta không có cảm giác bị áp chế, đè nén như Thiên An Môn… Dẫn chứng không thiếu.

Về kết cấu kiến trúc, các kiến trúc Nguyễn vẫn có nóc vì theo hình thức chồng rường giá chiêng nhưng phổ biến hơn với vì kèo có trụ trốn đứng trên quá giang, để dội thượng lương, cốn theo kiểu kẻ suốt hay kẻ chuyền. Nhiều khi có cốn mê bằng ván gỗ ghép. Đó là những kết cấu đơn giản, không cầu kỳ, nặng nề như trước, nhưng mặt nào đó tính nghệ thuật bị giảm đi.

Riêng ở Huế, kết cấu chồng rường được bổ sung các “giả thủ”, ở đầu các rường có các cột nhỏ (như cánh tay giả vươn lên đỡ hoành). Người ta còn sử dụng “vỉ vỏ cua” trong kiến trúc “trùng thiềm điệp ốc” để tạo ra một không gian thống nhất giữa hai ngôi nhà đứng liền nhau.

Điểm qua đôi nét về sự thăng trầm của vài loại hình kiến trúc cổ, mà chủ yếu chỉ quan tâm tới các di tích tôn giáo, như thế, phần viết này không đủ gợi cho chúng ta một mô hình nào đó về nền kiến trúc cổ Việt Nam. Tuy nhiên, bằng vào những cứ liệu thu thập được qua thực tế, chúng tôi muốn gửi tới những người yêu nghệ thuật truyền thống một số tư liệu để cùng nhau suy nghĩ, cùng chiêm ngưỡng và học tập, để cùng khẳng định về con đường đi của kiến trúc trong tương lai.

Kiến trúc truyền thống của người Việt, thực ra, chúng đã vượt ra ngoài cái không gian chật hẹp bao quanh. Ở chúng còn là một số vấn đề của lịch sử và xã hội. Chúng phản ánh trung thành nhất cái tâm hồn Việt - tính trữ tình, gần gũi, không khoa trương, áp chế mà đậm chất nhân văn.



[1] Trần Lâm Biền – Quanh ngõ đình làng (lịch sử) – Nghiên cứu Nghệ thuật 4  1983

Tác giả bài viết: TRẦN LÂM BIỀN, NGUYỄN HỒNG KIÊN

Nguồn tin: (Bài trích trong tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, số 2 và 3 năm 1987)

Close