THỰC TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐÀO TẠO NGÀNH BẢO TÀNG HỌC TẠI KHOA DI SẢN VĂN HÓA

Thứ ba - 13/01/2015 04:13


THỰC TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐÀO TẠO  NGÀNH BẢO TÀNG HỌC TẠI KHOA DI SẢN VĂN HÓA

THỰC TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐÀO TẠO NGÀNH BẢO TÀNG HỌC TẠI KHOA DI SẢN VĂN HÓA

Khoa Di sản văn hóa Trường Đại học Văn hóa Hà Nội là cơ sở đào tạo ngành Bảo tàng học lớn nhất nước ta hiện nay. Sau hơn nửa thế kỷ đào tạo đã có hàng ngàn sinh viên tốt nghiệp ra trường. Đây là cơ sở chính cung cấp nguồn nhân lực cho ngành Di sản văn hóa Việt Nam nói chung và ngành bảo tàng nói riêng.
Có thể nói, sự nghiệp đào tạo Bảo tàng học ở Khoa Di sản văn hóa, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội đã đạt được những thành tựu đáng kể góp phần tích cực vào sự nghiệp bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa Việt Nam. Bàn về đào tạo nói chung và đào tạo đại học nói riêng là câu chuyện dài không thể có hồi kết. Vấn đề đào tạo tại Khoa Di sản văn hóa cũng không phải là ngoại lệ. Vì vậy, bài viết này sẽ khái lược thực trạng và định hướng cơ bản trong quá trình đào tạo ngành bảo tàng học:
1. THỰC TRẠNG
1.1. Đội ngũ giảng viên
Từ xưa, vai trò người thầy luôn được đánh giá rất cao trong quá trình đào tạo. Trong dân gian, vai trò của người thầy có những lúc được khẳng định gần như tuyệt đối “không thầy đố mày làm nên”. Các nhà nghiên cứu về giáo dục đã từng có những cuộc tranh luận về người thầy, người ta tranh luận yếu tố người thầy hay yếu tố trò (học trò) giữ vai trò trung tâm quyết định trong việc dạy và học, trong quá trình đào tạo. Phần lớn cho rằng người thầy giữ vai trò quan trọng hơn và là trung tâm của quá trình đào tạo. Quan niệm người học là nhân tố trung tâm chỉ chiếm số ít. Đến nay, khi chuyển sang đào tạo tín chỉ, nhận thức đã có sự thay đổi, phần lớn các nhà nghiên cứu giáo dục cho rằng người học là  trung tâm của quá trình đào tạo. Tuy nhiên, cho dù xã hội có phát triển tới mức độ nào thì người thầy trong quá trình dạy học vẫn giữ một vị trí quan trọng quyết định tới chất lượng đào tạo.
Trong khoảng một thập kỷ qua, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội đã rất quan tâm đến việc nâng cao trình độ chuyên môn, bồi dưỡng kiến thức sâu, rộng cho đội ngũ giảng viên. Nhà trường đã tạo điều kiện cho giảng viên đi học nâng cao trình độ bằng nhiều hình thức khác nhau như khuyến khích đi học Sau đại học (cao học, nghiên cứu sinh) và mời chuyên gia nước ngoài tới tập huấn tại trường. Hưởng ứng chủ trương đúng đắn của Nhà trường, đội ngũ giảng viên Khoa Di sản văn hóa đã không ngừng học tập nâng cao trình độ, gần như 100% có trình độ Sau đại học. Năm 2014, Khoa có 13 cán bộ giảng viên. Đội ngũ giảng viên trẻ trong khoa hiện nay được đào tạo từ các nguồn và cơ sở khác nhau, một số được học tập, nghiên cứu từ nước ngoài, còn lại các giảng viên được đào tạo trong nước từ các cơ sở đào tạo như: Đại học Sư phạm Hà Nội, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội, Đại học Văn hóa Hà Nội. Khoa luôn khuyến khích, tạo điều kiện cho các giảng viên vừa tham gia giảng dạy, vừa học tập nâng cao trình độ chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm. Vì vậy, đội ngũ giảng viên của Khoa Di sản văn hóa đáp ứng đầy đủ tiêu chí bắt buộc của Bộ Giáo dục và Đào tạo (từ năm học 2014 -2015) giảng viên đại học phải có học vị từ Thạc sĩ trở lên.
Hàng năm, giảng viên Khoa Di sản văn hóa được tham gia các khóa tập huấn về nghiệp vụ bảo tàng do các chuyên gia giàu kinh nghiệm trong nước và nước ngoài giảng dạy. 
Tuy nhiên, bên cạnh việc đào tạo, nâng cao kiến thức chuyên môn thì giảng viên của Khoa cũng cần phải bổ sung thêm kiến thức ngoại ngữ để thích nghi với xu thế hội nhập.
1.2. Chương trình đào tạo
Mỗi khâu trong quy trình đào tạo như một mắt xích vận hành trong một cỗ xe. Nếu thiếu một khâu coi như toàn bộ quy trình không vận hành được. Chương trình đào tạo có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong quá trình đào tạo của bất kỳ một cơ sở đào tạo nào. Khoa Di sản văn hóa không ngừng đổi mới và tiến đến hoàn thiện chương trình đào tạo của ngành.
Chương trình đào tạo của Khoa Di sản văn hóa từ năm 1978 đến nay đã qua nhiều lần chỉnh lý. Chương trình giảng dạy năm 1978 dựa trên cơ sở chương trình của Khoa Lịch sử Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn). Khoa Di sản văn hóa đã xây dựng một chương trình mới, ngoài những môn học chung do Bộ Đại học (nay là Bộ Giáo dục - Đào tạo) quy định, Khoa đã bổ sung một số môn học mới cho phù hợp với việc tăng giờ thực hành, thực tế trong từng môn học nghiệp vụ.
Năm 1996, chương trình đào tạo được sửa đổi nhóm học phần chuyên môn chính bắt buộc là 77 đơn vị học trình gồm 28 môn học. Nhóm các môn học về chuyên đề tự chọn 18 đơn vị học trình gồm 14 môn học và chuyên đề thi và làm khóa luận tốt nghiệp 10 đơn vị học trình
Trước năm 2008 chương trình đào tạo và hệ thống giáo trình bảo tàng học Việt Nam có hạn chế là nội dung đào tạo thiên về lý luận, nhiều khi nặng nề về mặt chính trị tư tưởng cho nên trong chương trình đào tạo và giáo trình bảo tàng học còn thiếu tính ứng dụng thực tiễn, chưa ngang tầm đòi hỏi của giai đoạn đổi mới.
Từ năm 2008- 2012: Khối lượng kiến thức toàn khóa là 198 đơn vị học trình, chưa kể phần nội dung Giáo dục thể chất (5 đơn vị học trình) và Giáo dục quốc phòng, an ninh (165 tiết). Giai đoạn này có sự thay đổi bổ sung một số môn học mới, tuy nhiên về cơ bản vẫn chưa có bước đột phá, phần học lý thuyết vẫn chiếm số lượng khá lớn. Hạn chế này một phần do phụ thuộc vào khung chương trình chung của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Từ 2012-2013, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội chuyển từ đào tạo niên chế sang đào tạo theo phương thức tín chỉ. Đây là một bước đột phá trong toàn bộ hệ thống đào tạo của nhà trường. Hình thức đào tạo này làm thay đổi nhận thức toàn bộ những người tham gia vào quá trình đào tạo. Hay nói cách khác, làm thay đổi toàn bộ nhận thức của cán bộ, giảng viên và sinh viên. Đặc biệt nội dung chương trình đào tạo là yếu tố hết sức quan trọng có thể làm thay đổi căn bản chất lượng đào tạo. Theo kết cấu chương trình đào tạo ngành Bảo tàng học tại Khoa Di sản văn hóa Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, tổng số tín chỉ sinh viên phải tích lũy là 132. Chuyển sang phương thức đào tạo tín chỉ là sự đột phá có tính bước ngoặt của Khoa Di sản văn hóa Trường Đại học Văn hóa Hà Nội. Các môn học đã được bổ sung và cập nhật nội dung phù hợp với nhận thức và sự phát triển chung của xã hội trong thế giới hội nhập. Các môn học trong từng nhóm kiến thức được xây dựng thành tín chỉ, tùy theo định lượng của từng khối kiến thức. Như vậy, với chương trình đào tạo này, sinh viên có thể chủ động và phát huy tính tích cực trong việc bố trí kế hoạch học tập riêng của mình. Để giúp sinh viên củng cố vững chắc kiến thức và rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp, chương trình dành thời gian thích đáng cho việc thực tập, thực hành. Thời gian dành cho sinh viên thực tập môn học và thực tập tốt nghiệp được bố trí trong 12 tín chỉ.
Các sách và giáo trình đào tạo Bảo tàng học hiện nay Khoa xuất bản được khoảng 20 giáo trình và tài liệu tham khảo chuyên ngành. Một số môn học chưa có giáo trình chủ yếu tham khảo các tài liệu được dịch từ các bảo tàng và Cục Di sản văn hóa.
 1.3. Phương pháp dạy – học
Đây là khâu rất quan trọng trong quy trình đào tạo. Nếu có đội ngũ giảng viên, sinh viên và chương trình đào tạo tốt, nhưng không có phương pháp dạy - học thì quá trình đào tạo cũng không đạt được hiệu quả như mong muốn. Phương pháp dạy học là cầu nối tri thức giữa người dạy và người học (giảng viên và sinh viên). Do thói quen, đôi khi trong thực tế người ta hay nói đến thuật ngữ “phương pháp giảng dạy”, thiết nghĩ thuật ngữ này không chặt chẽ, mà thường đưa người học vào trạng thái thụ động. Người dạy thì truyền thụ kiến thức một chiều chỉ có giảng và dạy. Mà dùng thuật ngữ “phương pháp dạy - học” vừa khoa học, vừa đảm bảo nội hàm của vấn đề truyền thụ kiến thức theo hai chiều dạy và học. Như vậy, phương pháp dạy - học gồm: Phương pháp giảng dạy của giảng viên và phương pháp học tập của sinh viên. Hai phương pháp này không thể tách rời nhau, có thể hiểu một cách biện chứng, đó là hai mặt của một vấn đề dạy học cần có sự nỗ lực của cả giảng viên và sinh viên.
Hiện nay, Khoa Di sản văn hóa thực hiện phương pháp dạy học theo cách thức lý luận gắn với thực tiễn. Những buổi học trên giảng đường, giảng viên truyền đạt kiến thức tới sinh viên. Trong từng buổi học giảng viên đạt ra những câu hỏi trao đổi ngay tại lớp, hay tổ chức semina. Tùy từng môn học, giảng viên có phương pháp dạy và yêu cầu phương pháp học của sinh viên khác nhau. Khi học các môn chuyên ngành, mỗi môn học có tính chất đặc thù riêng, việc vận dụng lý luận vào thực tiễn học đi đôi với hành có khác nhau. Các môn học chuyên ngành được phân bố một thời lượng nhất định cho việc học thực tế tại các bảo tàng và các di tích lịch sử văn hóa.
Trong quá trình học phần lý thuyết các môn chuyên ngành, do điều kiện cơ sở vật chất trang thiết bị của trường thiếu thốn, không có phòng học thực hành, thực nghiệm phù hợp, Khoa Di sản văn hóa bằng mối quan hệ truyền thống nhiều năm, đã góp phần biến hệ thống các bảo tàng và các di tích lịch sử văn hóa làm nơi học tập thực tế rất sinh động. Khi học về di tích, sinh viên được đến di tích khảo sát trực tiếp, học về các khâu nghiệp vụ của bảo tàng cũng vậy, các bảo tàng lớn trên địa bàn Hà Nội cũng là giảng đường thứ hai cho sinh viên nghiên cứu học tập.
Khi tiếp cận học về “cổ vật”, nếu không có hiện vật, cổ vật, thì chắc chắn phần lý thuyết có hoàn thiện tới đâu thì nội dung và chất lượng đào tạo cũng sẽ bị hạn chế. Đối với ngành Bảo tàng học trong quá trình học phải có giáo cụ và các hiện vật trực quan sinh động, đây là ngành đặc thù “trăm nghe không bằng mắt thấy”. Nếu mua cổ vật (đại diện) thuộc các triều đại khác nhau trong tiến trình lịch sử dân tộc để cho sinh viên tiếp cận quan sát, thực hành giám định thì rất khó vì điều kiện kinh phí nhà trường có hạn. Vai trò của người thầy là chỉ dẫn cho sinh viên hướng tiếp cận hiện vật, khắc phục tình trạng này bằng cách, ngoài những buổi giảng viên hướng dẫn, sinh viên phải tự đến bảo tàng, di tích, các cửa hàng bán đồ lưu niệm, bán cổ vật chủ động tiếp xúc nghiên cứu.v.v....
Phương pháp dạy - học của Khoa Di sản văn hóa ngoài nhiệm vụ của người thầy bằng phương pháp, cách thức và khả năng tốt nhất của mình truyền đạt kiến thức cho sinh viên, đội ngũ giảng viên còn gợi mở phương pháp, cách thức, hướng tiếp cận tự học tập và nghiên cứu cho sinh viên theo đúng phương châm của Bộ Giáo dục - Đào tạo là “biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo”.
Để thực hiện tốt việc này, Khoa Di sản văn hóa đã chú trọng định hướng khuyến khích và hướng dẫn cho sinh viên tham gia vào công tác nghiên cứu khoa học. Trong bốn năm học tại Khoa, sinh viên được làm quen với công việc nghiên cứu qua các bài tập, bài nghiên cứu lớn, đó là “tiểu luận” bắt buộc làm vào năm học thứ ba và cũng trong năm học này Khoa tổ chức hội thảo khoa học định kỳ hàng năm của sinh viên. Đây là diễn đàn tốt nhất sinh viên có thể phát huy ý tưởng, tính sáng tạo độc lập của mình trong quá trình nghiên cứu khoa học. Quá trình làm tiểu luận, nghiên cứu khoa học là tiền đề, là bước tập dượt để sinh viên làm bài tập khóa luận tốt nghiệp.
Ngoài ra, Khoa Di sản văn hóa cũng tạo điều kiện cho sinh viên học tập theo nhóm, được giao lưu học hỏi với các nhà nghiên cứu, các chuyên gia trong ngành qua những chuyến đi thực tế, tham quan khảo sát. Đội ngũ giảng viên cơ bản là tạo điều kiện và có những phương pháp gợi mở, định hướng cho sinh viên học tập nghiên cứu, sinh viên phải “chủ động biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo” quá trình này diễn ra như thế nào lại phụ thuộc vào từng sinh viên. Mỗi người tự lập thời khóa biểu học tập và làm việc cho riêng mình. Việc kiểm tra và đánh giá thực hiện qua từng bài kiểm tra trong các học phần học trên lớp, trong các buổi thảo luận xêmina, qua hội thảo khoa học, bằng chứng xác thực là kết quả học tập từng môn học, từng học kỳ, từng năm.
1.4. Đối tượng đào tạo (học viên, sinh viên)
Đối tượng học ở Khoa gồm học viên và sinh viên. Sinh viên là đối tượng chính. Khoảng 10 năm trở lại đây, Khoa Di sản văn hóa - Đại học Văn hóa Hà Nội liên tục tuyển sinh mỗi năm 2 lớp, trung bình khoảng 100 sinh viên. Đối tượng tuyển sinh là học sinh tốt nghiệp phổ thông trung học. Các môn thi tuyển quốc gia đầu vào thi 3 môn Văn, Sử, Địa lý, mấy năm gần đây có bổ sung thêm khối thi mới thi Văn, Sử, Ngoại ngữ. Sau 4 năm học tốt nghiệp ra trường, người học có thể về làm việc tại các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Phòng Văn hóa, các Ban quản lý di tích, các bảo tàng từ trung ương đến địa phương trong cả nước. Bên cạnh đó có không ít trường hợp ra làm việc ở các ngành khác và cũng rất thành công.
Học viên là đối tượng theo học hệ chuyên tu, vừa học vừa làm, các lớp tập huấn nghiệp vụ ngắn hạn, chủ yếu là các cán bộ học viên đang công tác ở các cơ quan trong ngành bảo tàng trên phạm vi cả nước. Đối tượng này đi học nhằm nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn. Trường hợp các lớp ngắn hạn thành phần theo học rất phong phú và đa dạng, thuộc các ngành nghề và trình độ khác nhau như công an, hải quan, văn hóa, các nhà sưu tầm cổ vật. Họ có thể học đại học, sau đại học và cũng có những học viên chưa học đại học. Tất cả đều vì mục đích nâng cao kiến thức nghiệp vụ để phục vụ tốt cho công tác chuyên môn, cuối cùng vì sự nghiệp chung là Bảo tồn di sản văn hóa dân tộc. Chúng tôi chưa thống kê được có bao nhiêu sinh viên ra trường làm đúng ngành nghề. Mặc dù không ít sinh viên của Đại học Văn hóa Hà Nội ra trường đến nay thành đạt đúng với nghề nghiệp chuyên môn của mình. Có thể viện dẫn như đương kim Cục trưởng Cục Di sản văn hóa, và nhiều Giám đốc các Bảo tàng trên cả nước…
1.5. Cở sở vật chất  
Một trong những hạn chế của ngành Giáo dục - Đào tạo nước ta là hiện tượng dạy chay - học chay, lý luận xa rời thực tiễn, không có giáo cụ hoặc thiếu giáo cụ trực quan, thiếu hệ thống phòng thí nghiệm thực hành.
Mặc dù người dạy và người học chí quyết tâm cao, nhưng nếu không có điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật phục vụ cho việc giảng dạy và học tập thì cũng không thể có được kết quả đào tạo như mong muốn.
Những năm gần đây, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội quan tâm đầu tư kinh phí, cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị phục vụ giảng dạy và học tập. Giảng đường, thư viện ngày càng được xây dựng khang trang và hoàn thiện hơn. Nếu 10 năm về trước, cả trường chỉ có vài chiếc máy tính phục vụ cho sinh viên học tin học thì đến nay sau 10 năm, Nhà trường đã có phòng máy riêng, nối mạng và số lượng máy đủ để sinh viên có thể học tập thực hành tra cứu thông tin. Hệ thống máy chiếu đã được triển khai trên giảng đường. Thư viện cũng từng bước đổi mới nội dung phục vụ thường xuyên nhập các đầu sách chuyên ngành nhằm đáp ứng nhu cầu đọc và nghiên cứu của giảng viên và sinh viên. Khi học các môn học chuyên ngành, Khoa Di sản văn hóa chưa có phòng học thực hành tốt. Hiện nay, Khoa có một phòng thực hành nhỏ khoảng 20m2 lưu giữ một số hiện vật của các tổ chức và cá nhân trao tặng, nhưng còn rất khiêm tốn về số lượng và loại hình. Nhìn chung về cơ sở vật chất hiện nay vẫn chưa đáp ứng được điều kiện học tập nghiên cứu khoa học của sinh viên khi học chuyên ngành.
2. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN
Trong xu thế toàn cầu hóa không thể hài lòng với những thành tựu đã đạt được, vì điều đó sẽ không phù hợp và đáp ứng được với nhu cầu của thời đại mới. Nhà nước đã quy hoạch phát triển hệ thống bảo tàng Việt Nam đến năm 2020. Theo quy hoạch này, Việt Nam sẽ có mạng lưới bảo tàng phát triển sánh ngang với bảo tàng các nước phát triển trong khu vực. Như vậy,  việc đào tạo nguồn nhân lực ngành Bảo tàng học có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, năng động, sáng tạo có khả năng thích nghi trong thế giới hội nhập là hết sức cần thiết. Do đó cần phải đổi mới toàn diện những vấn đề lớn liên quan đến đào tạo.
Ngành và chuyên ngành đào tạo:
Khoa Di sản văn hóa tuyển sinh đào tạo hai ngành (Bảo tàng học và Quản lý văn hóa). Ngành Bảo tàng học hướng đến mở các chuyên ngành như: Bảo tàng; Bảo tồn di tích; Quản lý và giám định cổ vật;  Bảo quản hiện vật bảo tàng; Khai thác nguồn lực di sản văn hóa phát triển kinh tế… Đối với ngành Quản lý văn hóa bắt đầu từ năm học 2014 – 2015 Khoa tuyển sinh đào tạo chuyên ngành Quản lý Nhà nước về di sản văn hóa.
Đào tạo Thạc sĩ và Tiến sĩ về lĩnh vực bảo tàng và Di sản văn hóa. (dự kiến năm 2015 phối hợp với Phòng đào tạo Sau đại học mở đào tạo Thạc sĩ Bảo tàng học). Sau khi đào tạo Thạc sĩ sẽ tiếp tục nâng cao đào tạo Tiến sĩ ngành Bảo tàng học tại trường.
Nội dung và phương thức đào tạo:   
 Đổi mới chương trình đào tạo theo xu hướng tiên tiến hiện đại và hiệu quả nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội. Đồng thời đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học, gắn lý luận với thực tiễn, chú trọng phát triển khả năng tự học, độc lập trong tư duy và nghiên cứu khoa học của sinh viên. Xác định rõ người học là nhân tố trung tâm trong quá trình đào tạo.
Về đội ngũ giảng viên:
Tiếp tục nâng cao trình độ chuyên môn đội ngũ cán bộ - giảng viên. Tạo điều kiện cho giảng viên được tham quan học tập thực tế ở nước ngoài. Khai thác ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông vào quá trình dạy và học. Không ngừng nâng cao chất lượng và đa dạng hóa các loại hình đào tạo. Liên kết các hình thức đào tạo với các trường có cùng nhóm ngành đào tạo. Đào tạo cao học và nghiên cứu sinh. Phấn đấu đến năm 2020, 100% giảng viên có trình độ Tiến sĩ. Ngoài ra, Khoa cần phải xây dựng kế hoạch đào tạo ngoại ngữ cho đội ngũ giảng viên.
Hoạt động nghiên cứu khoa học:
 Khoa đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học cấp Trường; cấp Bộ và tiến tới tham gia nghiên cứu cấp Nhà nước về lĩnh vực Di sản văn hóa. Xác định rõ nghiên cứu và giảng dạy như hai đường “ray” của đoàn tàu, giảng viên cần phải trau dồi kiến thức, nghiệp vụ để hoàn thành tốt hai nhiệm vụ của một vấn đề. Gắn đề tài nghiên cứu khoa học với thực tiễn của ngành đặt ra.  Thường xuyên tổ chức và tham dự các hội thảo trong nước và quốc tế về các lĩnh vực có liên quan. Biên soạn và xuất bản thêm nhiều giáo trình, tài liệu tham khảo, phục vụ cho công tác giảng dạy và học tập của giảng viên và sinh viên.
 Quan hệ hợp tác trong và ngoài nước:
 Mở rộng quan hệ hợp tác với các trường Đại học, Viện nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan trong lĩnh vực đào tạo và nghiên cứu bảo tàng và bảo tồn di sản văn hóa. Cụ thể đẩy mạnh quan hệ hợp tác với Cục Di sản văn hóa; các trường đào tạo về Di sản văn hóa. Phối hợp với mạng lưới bảo tàng (công lập, ngoài công lập) và Ban quản lý di tích trong cả nước; với Trung tâm UNESCO Nghiên cứu bảo tồn cổ vật Việt Nam. Xây dựng và mở rộng mối quan hệ hợp tác với các bảo tàng trong khu vực và các bảo tàng của các nước phát triển nhằm gắn đào tạo lý luận với thực tiễn nâng cao chất lượn đào tạo nguồn nhân lực ngành Bảo tàng học.
Những định hướng trên được hiện thực hóa, chắc chắn sự nghiệp đào tạo Bảo tàng học tại Khoa Di sản văn hóa, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội sẽ không ngừng phát triển và đạt được những thành tựu cao hơn.

Tác giả bài viết: TS Nguyễn Sỹ Toản (Trưởng Khoa Di sản văn hóa - Trường ĐHVH HN)

Close