VẤN ĐỀ ĐÀO TẠO BẢO QUẢN VIÊN CỦA BẢO TÀNG NHẬN THỨC VÀ GIẢI PHÁP

Thứ ba - 13/01/2015 04:16


VẤN ĐỀ ĐÀO TẠO BẢO QUẢN VIÊN CỦA BẢO TÀNG NHẬN THỨC VÀ GIẢI PHÁP

VẤN ĐỀ ĐÀO TẠO BẢO QUẢN VIÊN CỦA BẢO TÀNG NHẬN THỨC VÀ GIẢI PHÁP

Nhận thức về vấn đề đào tạo bảo quản viên của bảo tàng
Bảo quản hiện vật là một môn học bắt buộc trong chương trình đào tạo nghiệp vụ bảo tàng. Môn học chiếm một thời lượng (60 tiết) trong đào tạo theo niên chế và 3 tín chỉ (45 tiết) trong đào tạo tín chỉ. Là người đã từng tham gia giảng dạy một phần của môn học, nay chúng tôi muốn giãi bày những suy ngẫm của mình về công tác đào tạo lĩnh vực chuyên môn bảo quản hiện vật bảo tàng trong thời gian qua.
Những vấn đề xoay quanh công tác đào tạo nghiệp vụ bảo quản hiện vật bảo tàng là: thầy, trò, thời gian đào tạo, tài liệu học tập, phương tiện học tập.
Bảo quản là một khoa học ứng dụng, cụ thể ứng dụng thành tựu của ngành hóa học, lý học, sinh học vào xử lý hiện vật. Với nhiệm vụ như vậy, nên trong công tác đào tạo cần có yêu cầu về kiến thức của người thầy và học trò. Người có nhiệm vụ đào tạo (thầy) cần có kiến thức cơ sở là lý, hóa, sinh (kiến thức thuộc ngành khoa học tự nhiên). Trong khi đó người làm nhiệm vụ đào tạo môn học lại được đào tạo kiến thức của khoa học xã hội, đó là vấn đề hết sức khó khăn khi thực hiện nhiệm vụ. Mặt khác, yêu cầu đối với những người làm nhiệm vụ đào tạo môn học bảo quản thì ngoài kiến thức cơ sở, cần được đào tạo cả kiến thức chuyên ngành bảo quản, ở đây chưa đảm bảo yêu cầu của hai loại kiến thức này.
Cũng cần nói thêm Khoa Di sản Văn hóa, trường Đại học Văn hóa Hà Nội trước đây có giảng viên được đào tạo về hóa tức là đã có mảng kiến thức cơ sở nhưng lại không được tiếp tục đào tạo mảng kiến thức bảo quản. Vì vậy, người  thầy ở đây đã hết sức cố gắng tự đào tạo, trau dồi kiến thức nghề nghiệp, nhưng vẫn gặp khó khăn trong nhiệm vụ đào tạo.
Về đối tượng được đào tạo:
Sinh viên Khoa Di Sản văn hóa, trường Đại học Văn hóa Hà Nội thi tuyển đầu vào là khối C (kiến thức khoa học xã hội), việc đào tạo kiến thức chuyên ngành cho người học lại thuộc khoa học tự nhiên nên công tác đào tạo lại càng gặp khó khăn hơn.
Về thời gian đào tạo:
Thời gian thực chất của môn học đã được đào tạo (theo niên chế 37,5 giờ), (theo tín chỉ là 22 giờ 50 phút), thật sự thời gian quá ít để được trang bị khối kiến thức mà người học cần có.
Về tài liệu học tập:
Trước đây (năm 1990), môn học Bảo quản hiện vật bảo tàng đã có một phần giáo trình nằm trong tập II của “Cơ sở bảo tàng học”. Giáo trình này hiện nay đã quá thiếu những thông tin cập nhật và đặc biệt là thiếu hẳn mảng kiến thức “bảo quản xử lý hiện vât”.
Năm 2012, nhóm giảng viên bộ môn, có mời thêm một tác giả đã từng được tu nghiệp nước ngoài về chuyên môn bảo quản hiện vật bảo tàng biên soạn cuốn sách: “Bảo quản hiện vật bảo tàng” in xong năm 2012.
Cuốn sách gồm 2 chương:
- Chương I: Tổ chức kho.
- Chương II: Bảo quản hiện vật bảo tàng.
Trong đó chương II gồm 2 phần:
- Phần 1 là bảo quản phòng ngừa.
- Phần 2 là bảo quản xử lý.
Theo nhận xét chủ quan của chúng tôi về cuốn sách thì chương I: Tổ chức kho và phần 1 của chương II (bảo quản  phòng ngừa cho hiện vật bảo tàng) có thể đạt được yêu cầu về lượng thông tin cần thiết cập nhật giúp người học tiếp thu được kiến thức và áp dụng tốt những tri thức đã học vào công tác của mình tại các bảo tàng.
Mục 2 của chương II, những tác giả của phần viết đã trình bày “những vấn đề cần thiết cho công việc bảo quản xử lý”, “quy trình xử lý hiện vật”, “các bước tiến hành xử lý hiện vật”. Đồng thời các tác giả có trình bày kỹ, cụ thể về cấu tạo chất liệu, cách chế tạo, tính chất lý, hóa của hiện vật, những yếu tố tác hại đối với từng loại hiện vật. Cuối cùng các tác giả nói đến cách bảo quản phòng ngừa cho từng loại hiện vật theo chất liệu, tránh cho hiện vật khỏi bị xuống cấp và hư hỏng.
Tóm lại là mục 2 chương II với nhan đề là “bảo quản xử lý hiện vật của bảo tàng” các tác giả giải quyết rất đầy đủ, kỹ lưỡng có tính khoa học cao ở tất cả mọi vấn đề xoay quanh “xử lý hiện vật”. Riêng phần xử lý hiện vật theo từng chất liệu cụ thể như kim loại bị rỉ, gỗ sũng nước, gỗ bị mối mọt, mất màu, quần áo mủn mục, giấy rách, tranh trên gỗ nứt nẻ, gốm mất mảnh, nứt vỡ,… thì xử lý cụ thể ra sao? Chất liệu cần dùng, phụ kiện, phương tiện, liều lượng, thao tác, các điều kiện nhiệt độ, độ ẩm, thời gian, không gian, …Vấn đề cốt yếu này chưa được giải quyết.
Trên đây chúng tôi đã trình bày khái quát về những chương, mục đã đạt được và chưa đạt được của tài liệu cần thiết bắt buộc đối với sinh viên trong học tập môn bảo quản hiện vật bảo tàng.
- Về tài liệu tham khảo của môn học: Các tài liệu tham khảo của môn học phần lớn nói về bảo quản phòng ngừa (kể cả tài liệu nước ngoài và trong nước). Gần đây có vài tài liệu nói về bảo quản đồ dệt, tranh trên toan, nhưng cũng thiên về bảo quản phòng ngừa là chủ yếu. Tài liệu tham khảo của môn học thiếu hẳn phần bảo quản xử lý các hiện vật theo chất liệu.
Về phương tiện học tập:
Cách đây 2 năm Trường Đại học Văn hóa Hà Nội mới trang bị được cho sinh viên toàn trường máy chiếu, micro cho giảng viên. Yêu cầu về phương tiện học tập cho sinh viên môn bảo quản cần có phòng thí nghiệm để thực tập, có mẫu vật, các dụng cụ, các chất hóa học,… để làm thí nghiệm.  Khoa Di sản Văn hóa chưa có các phương tiện học tập cần thiết nói trên cho môn học Bảo quản hiện vật bảo tàng.
Tất cả những lý do mà chúng tôi đã trình bày từ người thầy, sinh viên, thời gian học tập, tài liệu học tập và tham khảo, phương tiện học tập đã dẫn đến những mặt đã đạt được và chưa đạt được sau đây:
- Những kết quả đã đạt được trong công tác đào tạo những người làm bảo quản hiện vật bảo tàng trong thời gian qua đó là:
Những người tốt nghiệp đại học chuyên ngành bảo tàng học có thể làm các công việc về lĩnh vực  bảo quản như phân chia thành phần hiện vật kho, xây dựng các bộ sưu tập hiện vật của bảo tàng tiến tới hoàn thiện kho, phân loại, sắp xếp hiện vật. Cuối cùng là tìm các phương pháp thích hợp bảo quản phòng ngừa các yếu tố tự nhiên, các loài động thực vật tác hại đến hiện vật bảo tàng. Đồng thời thực hiện việc bảo quản phòng ngừa cho các loại hiện vật theo từng chất liệu của bảo tàng ở kho, phòng trưng bày, các địa điểm triển lãm cố định, triển lãm lưu động trong và ngoài nước.
- Mặt chưa đạt yêu cầu trong công tác đào tạo lĩnh vực bảo quản hiện vật là xử lý trị liệu đối với các hiện vật đã bị hư hại, xuống cấp.
Từ những vấn đề chưa đạt yêu cầu trong công tác đào tạo lĩnh vực bảo quản hiện vật bảo tàng, chúng tôi thấy trước hết, cần đổi mới nhận thức về công tác đào tạo nghiệp vụ trong thời gian qua. Cách đào tạo truyền thống của chúng ta là cho sinh viên học nhiều môn học, mỗi môn học nhiều nhất là 60 tiết học (45 phút/tiết), ít nhất là 15 tiết. Kết quả của sinh viên ra trường là cái gì cũng biết, nhưng sự hiểu biết là không sâu, không giỏi về một lĩnh vực nào cả. Những người cố gắng nhiều trong việc tự đào tạo  những kiến thức mình còn thiếu mới đáp ứng được những yêu cầu tối thiểu của phần công việc được giao phó, nghĩa là chỉ đáp ứng nhiệm vụ được giao, chứ chưa thể trở thành người có chuyên môn giỏi.
Vì vậy, để giảm thiểu những vấn đề chưa đạt yêu cầu trong công tác đào tạo hiện nay, chúng tôi muốn đề đạt một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác đào tạo nghiệp vụ bảo tàng nói chung, trong đó có công tác bảo quản. Cũng cần nói thêm công tác đào tạo hiện nay là đào tạo theo tín chỉ, điều này rất có lợi cho giải pháp mà chúng tôi sắp nêu ra sau đây.
Trên đây chúng tôi đã trình bày về quá trình đào tạo những người làm công tác bảo quản hiện vật bảo tàng. Tuy nhiên đào tạo người làm công tác bảo quản không thể tách rời đào tạo nghiệp vụ bảo tàng nói chung. Nghiệp vụ bảo tàng là thống nhất các bộ phận công việc của: Sưu tầm, kiểm kê, bảo quản, trưng bày và tuyên truyền giáo dục công chúng. Bảo quản chỉ là một bộ phận công việc trong nghiệp vụ bảo tàng nói chung.
Vì vậy, khi đề cập đến vấn đề đào tạo cho những người làm bảo quản có hiệu quả thì trước hết chúng tôi cần nói đến giải pháp đào tạo đội ngũ những người làm công tác bảo tàng nói chung.
Chúng tôi cũng nhận thức rằng mỗi bộ phận công việc của bảo tàng có liên quan đến những lĩnh vực tri thức khác nhau: Ví dụ người làm trưng bày bảo tàng cần có tri thức về mỹ thuật, thiết kế triến trúc nội ngoại thất của một loại hình bảo tàng nhất định. Người làm công tác bảo quản cần nắm vững tính lý hóa của chất liệu cấu tạo nên hiện vật, sử dụng các loại hóa chất, chất liệu thuộc sinh học, để xử lý hiện vật. Từ các nhận thức trên đây, chúng tôi nêu ra một số giải pháp có tính thực thi trong công tác đào tạo nghiệp vụ bảo tàng nói chung và đào tạo bảo quản viên nói riêng.
Giải pháp I:  Đào tạo nghiệp vụ bảo tàng nên đào tạo theo chuyên ban.
Toàn bộ nghiệp vụ bảo tàng có thể chia theo 4 chuyên ban là: chuyên ban sưu tầm, chuyên ban bảo quản, chuyên ban trưng bày và chuyên ban tuyên truyền giáo dục. Mỗi chuyên ban đều có những môn học chung và riêng.
Tất cả các chuyên ban đều trải qua hai giai đoạn đào tạo:
+ Giai đoạn 1: Đào tạo các môn học chung do trường chủ quản quy định và các môn học cơ sở thuộc yêu cầu của chuyên ban. Thời gian đào tạo trong giai đoạn 1 là 2 năm đầu nhưng tùy khả năng của mỗi sinh viên, họ có thể hoàn thành chương trình trong thời gian ngắn hơn do sự bố trí thời gian học tập một cách khoa học. Đối với những môn học cơ sở của chuyên ban, nếu trường chủ quản không đào tạo có thể học ở những trường khác. Điều đáng chú ý là sinh viên phải chọn những tín chỉ có tính chất thiết thực với công việc của mình theo yêu cầu của chương trình đào tạo đề ra.
Ví dụ: chuyên ban trưng bày rất cần kiến thức về mỹ thuật, nhưng trong ngành khoa học mỹ thuật lại có nhiều lĩnh vực khác nhau, trong số đó chúng ta nên chọn lĩnh vực mỹ thuật trang trí nội, ngoại thất cho công trình kiến trúc công cộng. Chuyên ban bảo quản cần kiến thức về lý, hóa, sinh nhưng cơ bản nhất là kiến thức về Hóa. Trong hóa học lại có nhiều ngành như  hóa phân tích, sinh – hóa, hóa vô cơ, hóa hữu cơ… Vì vậy nên xem trong số các môn học đó ta cần những môn học nào và dĩ nhiên trong bảo quản rất cần hóa vô cơ, hóa hữu cơ và hóa phân tích. Vì vậy, ta chỉ cần chọn những tín chỉ của những môn học thuộc loại kiến thức chúng ta cần dùng đã nói trên.
Còn 2 chuyên ban sưu tầm và tuyên truyền giáo dục công chúng thì kiến thức cơ sở là cần nắm vững lịch sử hình thành và phát triển của ngành khoa học tương ứng với bảo tàng. Ví dụ khoa học lịch sử tương ứng với Bảo tàng lịch sử chung. Khoa học lịch sử quân sự tương ứng với bảo tàng lịch sử quân sự. Khoa học địa chất tương ứng với Bảo tàng địa chất. Khoa học sinh học tương ứng với Bảo tàng thực vật, động vật …
+ Giai đoạn 2 của chương trình là đào tạo theo chuyên ngành (nghiệp vụ bảo tàng). Thời gian học của giai đoạn này là 2 năm cuối.
Sinh viên sau khi được học xong những môn học chung của trường quy định và môn học cơ sở thì bắt đầu học kiến thức chuyên sâu của từng chuyên ban.
Về giảng viên đào tạo chuyên ban: Số lượng giảng viên trong từng chuyên ban không chỉ có 1 người chịu trách nhiệm một khâu công  việc như hiện nay. Số lượng giảng viên trong mỗi chuyên ban tối thiểu từ 3 đến 5 người.
Mỗi một giảng viên đều nắm vững kiến thức chung của chuyên ban, đồng thời phải đi sâu một lĩnh vực cụ thể có trong chuyên ban. Ví dụ, một giảng viên trong chuyên ban sưu tầm trước hết là nắm vững các bước công tác sưu tầm, làm thành thạo các loại giấy tờ về sưu tầm hiện vật (hồ sơ sưu tầm). Đồng thời người đó lại rất thành thạo trong sưu tầm hiện vật của bảo tàng Địa chất hay bảo tàng thực vật, bảo tàng động vật. Tương tự như vậy, các giảng viên của các chuyên ban khác trong ngành học bảo tàng cũng đều phải đạt được kiến thức chung và riêng như thế.
Ba trong số bốn chuyên ban của ngành học bảo tàng là chuyên ban sưu tầm, chuyên ban trưng bày, chuyên ban tuyên truyền và giáo dục do các giảng viên trong nước, giảng viên Khoa Di sản văn hóa đào tạo. Riêng chuyên ban bảo quản, chúng tôi muốn đưa ra một giải pháp riêng vì đào tạo nghiệp vụ về bảo quản xử lý hiện vật hiện nay trong nước chưa đảm đương được. Như ở phần đầu chúng tôi đã nói những mặt đã đạt được và chưa đạt trong đào tạo bảo quản hiện vật bảo tàng. Chuyên ban bảo quản Khoa Di sản văn hóa đảm nhận đào tạo phần đầu tức là phần tổ chức kho và bảo quản phòng ngừa cho hiện vật bảo tàng. Còn phần bảo quản xử lý hiện vật bảo tàng là lĩnh vực công tác liên quan đến nhiều loại tri thức khác nhau như: Kiến thức về xử lý đồ dệt,  xử lý đồ gốm, xử lý kim loại, xử lý gỗ, xử lý tranh, xử lý phim ảnh,… Chính vì vậy nếu chỉ riêng khoa Di sản văn hóa Trường Đại học Văn hóa Hà Nội đào tạo lĩnh vực này, chúng tôi nghĩ sẽ không thực hiện được vì các lý do:
- Về nhân lực:  số lượng giảng viên của chuyên ban nếu mỗi người đảm nhận  đào tạo xử lý một loại chất liệu thì phải cần nhiều người. Số lượng giảng viên  một chuyên ban của 1 Khoa trong Trường không thể có nhiều như vậy được.
- Về cơ sở vật chất:
+ Không gian cần thiết cho công việc xử lý nhiều chất liệu cũng không thể bố trí được với diện tích của toàn trường như hiện nay.
+ Trang thiết bị: Máy móc, dụng cụ, hóa chất… tất cả những thứ cần thiết cho công việc xử lý các loại hiện vật theo nhiều chất liệu là hết sức lớn. Kinh phí của nhà trường có hạn và còn phải phân bố cho nhiều khoa, nhiều môn học khác nhau, không thể đầu tư theo yêu cầu của một chuyên ban trong một  khoa như vậy được.
Với các lý do trên đây,  nên chúng tôi nghĩ Khoa Di sản văn hóa không thể một mình đào tạo được mảng nghiệp vụ bảo quản xử lý hiện vật bảo tàng. 
Vì vậy, chúng tôi đưa ra một giải pháp riêng cho đào tạo mảng nghiệp vụ xử lý hiện vật bảo tàng.
Giải pháp II:  Đào tạo đội ngũ bảo quản hiện vật bảo tàng
Trước hết muốn đào tạo phải có thầy, việc đào tạo thầy phải đề ra trước tiên. Số lượng thầy làm “hạt nhân” làm nòng cốt đầu tiên ít nhất là 10 người.
Mười người này được chọn trong số sinh viên đã học ở khoa Di sản văn hóa hai năm đầu (đã học những tín chỉ bắt buộc và những tín chỉ cơ sở theo chuyên ban). Sau đó sẽ gửi số sinh viên ra nước ngoài học hai năm tiếp theo, một năm đào tạo kiến thức bảo quản các chất liệu nói chung và một năm đào tạo về một lĩnh vực cụ thể. Đào tạo theo phương pháp nào để đạt yêu cầu tùy các nước mà mình chọn để gửi người học. Cơ quan chịu trách nhiệm gửi người đi đào tạo có thể là Bộ văn hóa thể thao và du lịch, Cục Di sản văn hóa hoặc Khoa Di sản văn hóa của Trường Đại học Văn hóa Hà Nội. Cơ quan nào chịu trách nhiệm thì kinh phí đào tạo cũng do nhà nước đài thọ.
Vấn đề thứ 2 là cần thành lập một trung tâm “bảo quản xử lý- tu sửa phục chế hiện vật”. Trung tâm trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, trung tâm cần có địa điểm làm việc đủ diện tích, các phương tiện máy móc, dụng cụ, chất liệu, kinh phí…
- Về nhân lực của trung tâm gồm những người quản lý và các bảo quản viên giỏi được đào tạo ở trong nước và nước ngoài. Những người mà chúng ta đã chọn lựa và cử đi tu nghiệp trên đây.
- Nhiệm vụ của trung tâm “Bảo quản xử lý - tu sửa phục chế hiện vật” là đào tạo bảo quản viên cụ thể là công việc “bảo quản xử lý, tu sửa, phục chế hiện vật” cho những người học chuyên ban bảo quản, Khoa Di sản văn hóa, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội và những người làm công tác bảo quản ở các bảo tàng.
Nhiệm vụ thứ 2 là xử lý tất cả những hiện vật bị hư hỏng của các bảo tàng trong toàn quốc. Xử lý, tu sửa tất cả những dị vật của các cơ quan khác ngoài bảo tàng khi khai quật các di vật trong lòng đất hoặc dưới nước chưa có điều kiện để xử lý hiện vật.
Trên đây là nhận thức của chúng tôi về công tác đào tạo bảo quản viên của Khoa Di sản văn hóa trong thời gian qua. Đồng thời, chúng tôi cũng nêu một vài giải pháp góp phần vào sự nghiệp đào tạo cán bộ bảo tàng nói chung và đào tạo bảo quản viên nói riêng hiện nay và trong tương lai ở Việt Nam.
 

Tác giả bài viết: TS Nguyễn Thị Minh Lý (Khoa Di sản văn hóa - Trường ĐHVH HN)

Close