VỀ CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO CỬ NHÂN BẢO TÀNG HỌC HIỆN NAY CỦA KHOA DI SẢN VĂN HÓA

Thứ ba - 13/01/2015 04:14


VỀ CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO CỬ NHÂN BẢO TÀNG HỌC HIỆN NAY CỦA KHOA DI SẢN VĂN HÓA

VỀ CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO CỬ NHÂN BẢO TÀNG HỌC HIỆN NAY CỦA KHOA DI SẢN VĂN HÓA

Lịch sử đào tạo cán bộ văn hóa nói chung và cán bộ bảo tồn bảo tàng nói riêng của trường Đại học Văn hóa Hà Nội đến nay đã có bề dày hơn 50 năm
. Trong quá trình lịch sử ấy, Khoa Di sản văn hóa (trước đây là khoa Bảo tàng) đã thực hiện đa dạng hóa các hình thức đào tạo nguồn nhân lực cho ngành bảo tồn bảo tàng phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước ở từng giai đoạn cụ thể, đáp ứng được những yêu cầu của ngành đặt ra. Cụ thể như từ năm 1960 đến năm 1976 đào tạo cán bộ bảo tồn bào tàng hệ trung cấp; từ năm 1977 đến nay, đào tạo hệ đại học cử nhân bảo tàng học; trong đó gồm có hệ chính qui và hệ vừa học vừa đi làm. Ngoài ra còn đào tạo hệ bồi dưỡng ngắn hạn cấp chứng chỉ cho cán bộ trong vào ngoài ngành bảo tồn bảo tàng như cán bộ văn hóa, cán bộ hải quan, công an, các nhà sưu tập tư nhân… về giám định quản lý cổ vật, di tích và lễ hội, di tích – tôn giáo – tín ngưỡng, văn hóa du lịch, hướng dẫn viên di tích và bảo tàng; nâng cao năng lực nghiên cứu, sưu tầm và trưng bày hiện vật dân tộc học trong bảo tàng…
Hiện nay, trong hệ thống bảo tàng Việt Nam bao gồm các bảo tàng quốc gia, bảo tàng chuyên ngành, bảo tàng tỉnh thành phố, bảo tàng ngành công an, bảo tàng lực lượng vũ trang Quân đội nhân dân Việt Nam,các trung tâm, ban quản lý di tích và danh thắng, Sở Văn hóa, thể thao và du lịch, Viện nghiên cứu văn hóa, phòng văn hóa quận huyện… trên phạm vi cả nước đều có cán bộ tốt nghiệp từ Khoa Bảo tàng về làm việc. Họ đã và đang giữ vai trò quan trọng trong công tác nghiệp vụ, nghiên cứu, quản lý bảo tồn và phát huy giá trị của di sản văn hóa dân tộc.
Để có được những thành tựu trong công tác đào tạo trên đây đòi hỏi phải có nhiều yếu tố như :
• Chương trình đào tạo, giáo trình đào đạo, nội dung và phương pháp giảng dạy
• Đội ngũ giảng viên
• Cơ sở vật chất
• Trang thiết bị phục vụ công tác đào tạo
Trong đó, chúng tôi muốn bàn đến chương trình đào tạo cử nhân bảo tàng học hiện nay, đây là một vấn đề hết sức quan trọng không thể thiếu được trong quá trình đào tạo cử nhân bảo tàng học của Khoa và nhà trường.
Trước tiên chúng tôi điểm qua đôi nét về quá trình xây dựng chương trình đào tạo cử nhân bảo tàng học của Khoa Di sản văn hóa trong hơn 30 năm qua.
Từ khi Khoa Di sản văn hóa có chức năng nhiệm vụ đào tạo cử nhân bảo tàng học (từ 1978 đến nay), Khoa Di sản văn hóa một mặt đã kiện toàn về mặt tổ chức của Khoa như xây dựng và bổ sung nâng cao trình độ đội ngũ giảng viên, xây dựng các tổ bộ môn, biên soạn bài giảng, giáo trình, tài liệu tham khảo… mặt khác, bám sát vào mục tiêu đào tạo cử nhân bảo tàng học trong từng thời kỳ để xây dựng các chương trình đào tạo bảo tàng học hệ đại học cho đảm bảo tính toàn diện, tính khoa học, tính khách quan và tính khả thi của chương trình, tức là chương trình đào tạo cử nhân bảo tàng học phục vụ yêu cầu của ngành bảo tồn bảo tàng Việt Nam.
Sau khi sinh viên tốt nghiệp, ra công tác đáp ứng được những yêu cầu của ngành bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc.
Kết quả cho đến nay, Khoa đã xây dựng 4 bộ chương trình đào tạo cử nhân bảo tảng học theo niên chế dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn của sự nghiệp bảo tồn bảo tàng Việt Nam, đồng thời nghiên cứu tham khảo các chương trình đào tạo bảo tàng học của một số trường đại học của các nước trên thế giới. Đó là các chương trình đào tạo năm 1978, năm 1988, năm 1996 và năm 2002. Các chương trình đào tạo này đã thực sự góp phần quan trọng để đào tạo và nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ bảo tàng học trong nhiều thập kỷ qua cho ngành bảo tồn bảo tàng Việt Nam.
Đến những năm gần đây, theo yêu cầu đổi mới công tác giáo dục và đào tạo của Đảng và Nhà nước, hệ đào tạo đại học nói chng và đào tạo hệ đại học bảo tàng nói riêng, yêu cầu phải được đào tạo theo hệ thống tín chỉ, Khoa Di sản văn hóa sau một thời gian nghiên cứu lý luận của thế giới, kết hợp với thực tế kinh nghiệm hoạt động ngành bảo tồn bảo tàng Việt Nam, khu vực và thế giới… để xây dựng được bộ chương trình đào tạo bảo tàng học hệ đại học đào tạo theo hệ thống tín chỉ. Nội dung của chương trình này nhằm trang bị những kiến thức cơ bản về bảo tàng học để người học có đủ năng lực thực hiện các nhiệm vụ được giao tại các thiết chế bảo tàng, di tích và tại các cơ quan, các tổ chức chính trị xã hội. Xã hội nghề nghiệp có chức năng liên quan đến sự nghiệp bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc.
Cấu trúc của chương trình đào tạo với tổng số tín chỉ phải tích lũy là 132 tín chỉ, trong đó :
A – Khối kiến thức đại cương                                 49 tín chỉ
B – Khối kiến thức giáo dục chuyên nghiệp           83 tín chỉ
Trong khối kiến thức giáo dục chuyên nghiệp gồm có :
• Khối kiến thức cơ sở của ngành                    21 tín chỉ
• Khối kiến thức chung của ngành                   50 tín chỉ
• Khối kiến thức chuyên ngành                        0 tín chỉ
• Thực tập và tốt nghiệp                                   12 tín chỉ
Trong quá trình học tập sinh viên ngành bảo tàng học phải tích lũy đầy đủ số tín chỉ theo qui chế của nhà trường.
Phải nói rằng trong quá trình bổ sung, chỉnh lý, xây dựng chương trình mới này các chuyên gia của ngành và hội đồng khoa học của khoa – nhà trường đã nghiên cứu rà soát lại dung lượng các môn học của khối kiến thức cơ sở ngành và khối kiến thức ngành nên:
• Bổ sung được một số môn học mới cập nhật kiến thức về lý luận và thực tiễn phát triển sự nghiệp bảo tồn, phát huy di sản văn hóa của nước ta và trên thế giới, đó là : môn học Đại cương về di sản văn hóa; Xây dựng và khai thác giá trị sưu tập hiện vật bảo tàng ; Xã hội hóa hoạt động bảo tàng; Lịch sủ sự nghiệp bảo tồn bảo tàng Việt Nam; Văn bản pháp qui về di sản văn hóa Việt Nam…
• Những môn học của khối kiến thức ngành đã được bổ sung thêm giờ lý thuyết và thực hành , đó là môn : “Sưu tầm hiện vật bảo tàng”; trước đây chỉ có 30 tiết, nay là 2 tín chỉ; “Công tác giáo dục của bảo tàng” trước đây chỉ có 30 tiết nay đã nâng lên giảng dạy là 2 tín chỉ; “Công tác kiểm kê hiện vật bảo tàng” trước đây là 30 tiết, nay bổ sung giảng dạy giờ lí thuyết và thực hành là 2 tín chỉ…
• Chương trình đã tập trung thêm một số tiết và thời gian cho phần thực tập, tham quan, thực tế tại bảo tàng, di tích, cổ vật để đảm bảo lý thuyết bảo tàng học và bảo tồn di tích lịch sử văn hóa… Không xa rời với hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa hiện nay
• Chương trình còn dành thời gian để mời các chuyên gia tham gia giảng dạy chuyên đề, báo cáo kinh nghiệm, trao đổi và cập nhật thông tin về bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa không những của Việt Nam mà cả một số nước ở khu vực, trên thế giới để người học được nâng cao tri thức, cập nhật kiến thức mới, tiếp thu kinh nghiệm quí giá của họ…
• Nội dung chương trình khối kiến thức chung của ngành bảo tàng học (phần bảo tàng và bảo tàng học) gồm có các môn học sau :
• Bảo tàng học đại cương: 3 tín chỉ
• Sưu tầm hiện vật bảo tàng: 2 tín chỉ
• Kiểm kê và bảo quản hiện vật bảo tàng: 5 tín chỉ
• Trưng bày hiện vật bảo tàng: 3 tín chỉ
• Công tác giáo dục của bảo tàng: 2 tín chỉ
• Xây dựng và khai thác giá trị sưu tập hiện vật bảo tàng: 2 tín chỉ
• Quản lý bảo tàng và di tích: 3 tín chỉ
• Xã hội hóa hoạt động bảo vệ di tích: 2 tín chỉ
• Lich sử sự nghiệp bảo tồn bảo tàng Việt Nam: 2 tín chỉ
• Di sản văn hóa: 3 tín chỉ
• Văn bản pháp qui về di sản văn hóa Việt Nam: 2 tín chỉ
• Cùng với khối kiến thức ngành bắt buộc nêu trên, trong chương trình đào tạo cử nhân bảo tàng học theo hệ thống tín chỉ còn cấu trúc các môn học thuộc khối kiến thức cơ sở, cơ bản của ngành… để trang bị cho người học về đường lối chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về xây dựng phát triển kinh tế - văn hóa – xã hội; đường lối cách mạng, đường lối văn hóa – văn nghệ của Đảng; tư tưởng Hồ Chí Minh; hệ thống kiến thức các môn học về bảo tồn phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, về bảo tồn phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể, về quản lý và giám định cổ vật; về những thành tựu khoa học kĩ thuật mới, công nghệ tin học vận dụng vào hoạt động bảo tồn bảo tàng, về nghiên cứu khoa học, về ngoại ngữ và về một số môn khoa học quan trọng như sử học, dân tộc học, khảo cổ học…
Trong quá trình thực hiện chương trình đào tạo này các môn học được phân bố ở các năm học khác nhau trong 4 năm tại nhà trường, trong đó có qui định rõ ràng những môn học bắt buộc phải học đối với người học mà không có quyền lựa chọn và có các môn học người học có quyền tự chọn cho mình để theo học tích lũy tín chỉ.
• Ở năm thứ nhất và năm thứ hai, cùng với các môn học của khối kiến thức đại cương, sinh viên Khoa Di sản văn hóa được trang bị kiến thức của các môn học cở sở ngành để trên cơ sở đó mới tiếp thu tốt về kiến thức của các môn học ngành bảo tàng học, đồng thời Khoa Di sản văn hóa và nhà trường còn sắp xếp một số môn học thuộc khối kiến thức bắt buộc của ngành để sinh viên được tiếp cận, nghiên cứu và được trang bị kiến thức lý luận bảo tàng học, hiểu được ngành học sẽ có ý thức học tập yêu ngành học, và tạo điều kiện cho sinh viên được tham quan học tập tại một số bảo tàng, di tích và tham gia khai quật di chỉ khảo cổ học hay điền dã dân tộc học.
• Năm thứ ba, sinh viên học tập chủ yếu các môn học thuộc khối kiến thức bắt buộc của ngành bảo tàng học, kết hợp với đi thực tế, thực tập nghề nghiệp tại bảo tàng hoặc sở văn hóa, phòng di sản văn hóa hay các ban quản lý, trung tâm bảo tồn di tích…
• Năm thứ tư, sinh viên tiếp tục hoàn thiện các môn học bắt buộc và các môn học tự chọn, hoặc có thể nghe báo cáo chuyên đề hay phổ biến những vấn đề mới của ngành bảo tàng học Việt Nam và thế giới…Kết hợp với thực tập nghề nghiệp; hoàn thành các nội dung trên đây, sinh viên được xét tốt nghiệp hoặc viết khóa luận tốt nghiệp.
• Nhìn chung, chương trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ trên đây đã bổ sung được một số môn mới, kết cấu nội dung các môn học trong chương trình đã khá hợp lý, khoa học, cập nhật thông tin về bảo tàng học của một số nước trên thế giới; giờ thực hành tự học cho sinh viên đã được bố trí tỷ lệ nhất định theo hướng tích cực hơn.
Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm trên đây chương trình đào tạo cử nhân bảo tàng học theo hệ thống tín chỉ cũng còn một số điểm hạn chế cần khắc phục dần để chương trình đào tạo được hoàn chỉnh, khoa học hơn. Đó là: chưa có và cập nhật môn học “Marketing Bảo tàng”, “Ứng dụng công nghệ tin học trong bảo tàng và di tích”; “Quan điểm và phương pháp tiếp cận di sản văn hóa” ; “Vấn đề kinh tế trong bảo tàng”... chưa dành thời lượng hợp lý mời chuyên gia nước ngoài và trong nước tham gia giảng dạy hoặc báo cáo các vấn đề mới của ngành bảo tàng học, hay những chuyên gia của ngành; báo cáo những thành tựu mới nhất của ngành bảo tàng học Việt Nam cho sinh viên…
Cuối cùng, chúng tôi kiến nghị cần tăng cường hợp tác chặt chẽ hơn nữa trong lĩnh vực đào tạo như giảng dạy, giáo trình, dịch thuật, trao đổi thành tựu, nghiên cứu khoa học, cở sở thực hành cho sinh viên giữa Khoa Di sản văn hóa, Trường ĐHVH HN với Cục Di sản văn hóa; các Bảo tàng Quốc gia, Bảo tàng chuyên ngành, Bảo tàng và Ban quản lý di tích, danh  thắng các địa phương tỉnh, thảnh phố, với các chuyên gia, các nhà nghiên cứu, các Viện nghiên cứu văn hóa và di sản văn hóa…cùng hợp tác lâu dài có sự ủng hộ của lãnh đạo các cơ quan ban ngành nhằm mục đích nâng cao chất lượng đào tạo bảo tàng học ở Việt Nam phục vụ sự nghiệp Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa đất nước.
 

Tác giả bài viết: PGS.TS Nguyễn Thị Huệ (Nguyên Trưởng Khoa Bảo tàng- ĐHVH HN)

Close