KHOA DI SẢN VĂN HÓA BÂY GIỜ …. NGÀY ẤY

Thứ hai - 12/01/2015 04:14


KHOA DI SẢN VĂN HÓA BÂY GIỜ …. NGÀY ẤY

KHOA DI SẢN VĂN HÓA BÂY GIỜ …. NGÀY ẤY

Vâng, bây giờ Khoa Di sản Văn hóa mà trước đó là Khoa Bảo tàng của trường Đại học Văn hóa Hà Nội, sau hơn 50 năm xây dựng và trưởng thành, đã có một vị trí nhất định trong hệ thống đào tạo đại học ở nước ta. Nhưng những ngày ban đầu ấy, kể cả cơ sở vật chất của trường và tổ chức ngũ của Khoa còn sơ khai lắm.
   Tôi được vào trường học lớp trung cấp khóa 2, nhập trường cuối năm 1961 và ra trường tháng 12 năm 1964. Có thể nói, chúng tôi là thế hệ đầu của trường đào tạo theo hệ chính quy, và hoàn toàn trước chiến tranh chống Mỹ. Thời gian này, trường có ba cơ sở đó là khu A số Đê La thành, nay là 418 đường La Thành. Cơ sở hai, khu B, ở  phía sau Nhạc Viện hiện nay và cơ sở 3 là một ngôi nhà 5 tầng ở Khu Văn công trung ương (Khu Mai Dịch).  Năm 1965, trường bắt đầu đi sơ tán. Khu A, có Hội trường, các phòng học và các nhà hiệu bộ và chức năng của trường, nhà ăn tập thể, nhà bếp là nhà cấp 4. Còn lại các nhà ở của học viên thì bằng tre, vách dựng bằng cót. Khu A năm đầu chỉ có một lớp ở là lớp dài hạn (3 năm, gọi là dài hạn vì toàn cán bộ được cử đi học, phần nhiều là cán bộ miền Nam tập kết). Khu B lúc đó nhiều cơ quan, cả đoàn văn công Trị Thiên, các lớp Bổ túc ngắn hạn cho các nghệ sĩ cả Bộ và các lớp ở Trung cấp Bảo tàng 1 & 2, Cao đẳng Thư viện, trung cấp phát hành sách và trung cấp thư viện. Từ giữa năm 1962, nhà 5 tầng Khu văn công Mai Dịch có 3 lớp vừa ở vừa học, đó là Lớp trung cấp Câu lạc bộ khóa 1 và hai lớp trung cấp bảo tàng 1 và 2. 
Lớp tôi may mắn, trong 3 năm học, đã được ở cả ba cơ sở ấy của trường. Khi ấy tất cả học sinh đều bắt buộc ở nội trú trong trường, được sinh hoạt theo nề nếp như quân đội. Ăn, ngủ theo “kẻng”, trực nhật vệ sinh lớp học, phòng ở… Tối thứ bảy được tự do, tối chủ nhật điểm danh. Sáng sang thể dục, điểm danh. Các buổi tối trong tuần có nhiều cuộc sinh hoạt chi đoàn, phân đoàn, tổ học tập. Ăn tập thể với tiêu chuẩn tháng 18 đồng (ba hào một bữa, lương thực (gạo + ngô hoặc mì), và thực phẩm theo tem phiếu). Học sinh được cấp học bổng hàng tháng theo mức độ 1/3, 2/3 và toàn phần. Toàn phần là 18 đồng / tháng. Đến giờ ăn theo lớp, 6 người một bàn (không ghế).
Tuy điều kiện vật còn rất sơ khai ngày ấy, nhưng những kỷ niệm về ngôi trường này với chúng tôi thật sâu đậm. Trên nửa thế kỷ trôi qua kể từ ngày nhập trường, nhưng khi gặp lại nhau, anh em trung cấp bảo tàng 1 & 2, chúng tôi vẫn kể với nhau cái ngày ấy vừa như hôm qua vậy. Đặc biệt là về sự học hành, các thầy thời ấy.
Trước hết phải kể đến hai lớp trung cấp bảo tàng 1&2. Tuy là hai khóa, nhưng khi nhập trường chỉ cách nhau mấy tháng và ra trường cũng vậy. Có lẽ vì lớp bảo tàng 1 khi tuyển sinh được toàn cán bộ đi học và chỉ khoảng mươi học sinh. Sau đó tuyển tiếp khóa 2. Khóa này thi rất đông, nhưng khi nhập trường cũng nhiều bộ đội và cán bộ đi học. Vì khi vào và ra không cách nhau, lại cùng ăn, cùng ở và học, đi thực tập… tại một địa điểm nên hai lớp rất gắn bó.
Khi ấy phụ trách hai lớp, chưa hình thành Khoa, chỉ một số cán bộ của Vụ được cử về có thày Đặng Quang Văn, bác Nguyễn Văn Lợi (người Huế, cán bộ miền Nam tập kết), thày Lê Tư Lành (thày là Nghị sĩ Quốc hội khóa 1), sau đó lớp tôi ra trường, thày lại chuyển về Vụ bảo tồn, bảo tàng (thân phụ nhà nghiên cứu Lê Đăng Doanh). Các thày chủ yêu làm công tác quản lý, chỉ có thày Lành dạy chữ Hán thay thày Chu Thiên một số buổi.
Chương trình học, tuy là trung cấp, nhưng được thiết kế kiểu như thu hẹp chương trình chuyên ngành của Đại học Sử. Ngoài những môn học chung cũng tương tự như bây giờ, phần cơ sở ngành và chuyên ngành thì học rất nhiều môn và nhiều môn khoa học bổ trợ khác. Ngoài những môn học chính như Lịch sử Việt Nam, Lịch sử thế giới có các môn như Dân tộc học, Khảo cổ học, Văn hóa các dân tộc Việt Nam, Hán – Nôm, Trắc địa học, Địa chất học, Cổ sinh vật học, Lịch sử Văn học Việt Nam, Địa lý tự nhiên Việt Nam, Lịch sử Phật giáo Việt Nam … Các môn học chuyên ngành có Bảo tàng học, Công tác Bảo tồn di tích, Kiến trúc cổ, Cổ vật, nhiều báo cáo chuyên đề của các chuyên gia chuyên ngành. Môn Kỹ thuât chụp ảnh cũng được đưa vào chương trình giảng dạy. Cính vì thế sau này có anh chị trở thành nhiếp ảnh chuyên nghiệp.
Về đội ngũ các thầy thì tuyệt vời. Có lẽ cái ấn tượng đến bây giờ với những hồi ức đẹp là chúng tôi nhớ đến những người thày đã tham gia giảng dạy đào tạo cho hai lớp trung cấp bảo tàng 1& 2. Các thày lúc ấy chưa có được phong học hàm học vị, nhưng đều là các thày nổi tiếng trong các lĩnh vực chuyên môn thời bấy giờ.
Như thày Trần Quốc Vượng (dạy Khảo cổ học cho lớp bảo tàng 1), thày Hà Văn Tấn (dạy Kháo cổ học cho lớp bảo tàng 2), thày Vương Hoàng Tuyên dạy về Dân tộc học. Các nhà nghiên cứu như thày Trần Văn Giáp dạy về Phật giáo, thày Lã Văn Lô, thày Nguyễn Hữu Thấu, về dân tộc học. Thày Trần Văn Giáp dạy về Phật gáo. Chúng tôi đặc biệt ấn tượng nhớ về thày Chu Thiên dạy toàn bộ chương trình Hán Nôm cho cả hai lớp. Giáo trình thày biên soạn, khi ấy việc in ấn chữ Hấn là rất khó, nên sau buổi học, thày đưa cho lớp trưởng bài sau để chúng tôi tư chép bài. Vì vậy, hầu như ai cũng đủ bài. Những bài thày dạy chúng tối nhiều người còn giữ được đến ngày hôm nay. Nội dung học từ dễ đến khó và cuối cùng thày dạy những bài mẫu các loại hình di sản văn hóa Hán Nôm trong các di tích lịch sử văn hóa. Vì vậy, khi ra công tác chúng tôi vận dụng được ngay.
   Khi ấy, là lớp con đầu cháu sớm của ngành, nên được Vụ chăm  sóc và ưu ái cho tham dự các cuộc hội thảo và cử  nhiều cán bộ về truyền đạt kinh nghiệm thực tế và cập nhật tình hình. Những buổi nói chuyện của thày Cử Thước (thày tên là Lê Thước, đỗ cử nhân Hán học khóa cuối cùng năm 1919, thân phụ PGS. TS Lê Xuân Diệm), thày dạy một số buổi chữ Hán. Thày tâm sự, thày tuy học Hán học nhưng trước cách mạng, thày dạy sử cho Trường Sư phạm Vinh. Để học trò hiểu và yêu thích lịch sử Việt Nam, thày trường dẫn học trò đi tham quan các di tích lịch sử để truyền đạt tinh thần yêu nước cho họ. Thày nói, chính vì thế sau này một số thanh niên đã sớm giác ngộ và tham gia cách mạng như Hà Huy Giáp, Tôn Quang Phiệt. Chính vì thày rất yêu thích lịch sử và di tích nên sau cách mạng thày đã chuyển về công tác trong ngành bảo tồn, bảo tàng.
   Chúng tôi thường nhắc lại với nhau về hạnh phúc và niềm tự hào vì được học những thày như thế.
   Ngoài những môn học chuyên ngành có thực tập thì một số môn cũng được thực hành, thực tế theo môn học. Như môn Khảo cổ học, hai lớp chúng tôi được “kiến tập” làm lao công trên công trường khai quật khảo cổ ở Thiệu Dương (Thanh Hóa), khảo sát điền dã khảo cổ ở Chi Lăng (Lạng Sơn) có sự hướng dẫn của thày Hà Văn Tấn và Hoàng Xuân Chinh, Lê Xuân Diệm. Điền dã Dân tộc học ở  một xã dân tộc Tày và Nùng ở Lạng Sơn trong 2 tuần, có báo cáo thu hoạch theo đề tài được hướng dẫn của cán bộ Viện Dân tộc học (anh Nông Trung).
   Về thực tập chuyên ngành thì tuyệt vời. Thực tập công tác bảo tàng thì về các bảo tàng mới thành lập (lúc này có “phong trào xây dựng bảo tàng ” cơ sở) như bảo tàng Xi Măng (Hải Phòng), bảo tàng Khu Cháy (Hà Tây)…Về công tác bảo tồn, những năm ấy Bộ đang phát động các tỉnh Kiểm kê phổ thông thực hiện Nghị định 519 TTg về Bảo tồn di tích. Vì thế, chúng tôi được trưng tập về một số di tích ở đồng bằng sông Hồng: Hà Nam, Hà Tây, Bắc Ninh để tến hành Kiểm kê di tích cho từng xã. Nay nhiều nơi còn lưu trữ những tư liệu này. Được thực tập, kiến tập như thế nên chúng tôi có kỹ năng tay nghề tương đối vững khi bước vào cuộc sống. Có lẽ, chính vì có nghề  nên anh chị em chúng tôi yêu nghề.
   Ngày ấy điều kiện in ấn còn rất khó khăn, nhưng nhà trường vẫn có tài liệu học tập cần thiết để chúng tôi có hành trang làm nghề sau này. Nhiều anh chị em chúng tôi còn giữ được những tài liệu học tập. Như tài liệu về Phập giáo và bài trí tượng Phật trong chùa của thày Trần Văn Giáp làm hành trang mỗi khi chúng tôi đi khảo sát di tích địa phương, tài liệu Niên biểu Việt Nam của thày Cử Thước, các tài liệu về kiến trúc cổ, cổ vật… của thày Trần Huy Bá. Ngày ấy chỉ có kỹ thuật in rônêô. Nhiều tài liệu nhà trường in cho lớp bảo tàng phía cuối đều có dòng “lạc khoản”: Ngà đánh máy, Yến in rônêô. Bác Ngà tuổi đã cao, có con trai làm giảng viên của trường
   Nhờ những tri thức và đặc biệt là nhờ sự hun đúc của các thày về yêu nghề, yêu di tích, yêu lịch sử dân tộc, chúng tôi hăng hái vào nghề. Nhiều anh chị thành đạt trở thành nhà khoa học hay quản lý như: PGS. TS Lê Thị Nhâm Tuyết, PGS. TS Lê Huyên (Hiệu trưởng Trường Đại học Mỹ thuật Công nghiệp Hà Nội), Đinh Ngọc Hải (Phó giám đốc Sở Văn hóa tỉnh Cao Bằng) và nhiều anh chị là cán bộ chuyên môn tại các bảo tàng trog nước.
 

Tác giả bài viết: NGUYỄN THỊNH (Cựu học sinh lớp Trung cấp Bảo tàng khóa 2)

Close